Mặc dù bị can Trịnh Xuân Thanh (nguyên Chủ tịch HĐQT của PVC) học tại Đại học Kiến trúc Hà Nội khóa 1985-1990, nhưng tới 2003 trường này mới cấp bằng tốt nghiệp trong khi theo quy định của Bộ Giáo dục đào tạo chỉ được bảo lưu kết quả 2 năm. Có hay không trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cấp bằng sai quy định cho Trịnh Xuân Thanh?


Trước những băn khoăn của dư luận về việc trường Đại học Kiến trúc Hà Nội dường như đã cấp bằng Đại học chính quy sai quy trình cho bị can Trịnh Xuân Thanh (người đang bị công an Việt Nam truy nã quốc tế), ngày 20.9, nhằm xác minh cụ thể sự việc, PV Dân Việt đã liên hệ làm việc với trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Sau khi trao đổi với Dân Việt, ông Đỗ Việt Phương – Phó trưởng Phòng Tổng hợp kiêm Thư ký Hiệu trưởng trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã trực tiếp liên hệ qua điện thoại với PGS.TS.KTS Phạm Trọng Thuật – Trưởng phòng Đào tạo (Đại học Kiến trúc Hà Nội). Tuy nhiên, ông Thuật nói là cần phải kiểm tra lại thông tin vì thời gian bị can Trịnh Xuân Thanh theo học tại ĐH Kiến trúc cũng đã trôi qua khá lâu và hẹn sẽ cung cấp thông tin sau.

Tuy vậy, sau đó, PV đã nhiều lần gọi lại cho ông Đỗ Việt Phương nhưng ông này tìm mọi lý do để thoái thác trả lời. Tới ngày 26.9, ông Phương mới báo cáo vụ việc này cho PGS.TS.KTS Lê Quân – Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Sau đó, ông Phương thông báo lại cho PV là Hiệu trưởng Lê Quân đã giao cho ông Phạm Trọng Thuật – Trưởng phòng Đào tạo trả lời các thông tin liên quan tới vấn đề quy trình cấp bằng Đại học chính quy cho bị can Trịnh Xuân Thanh.

Chiều ngày 26.9, khi chúng tôi gọi lại cho ông Thuật thì ông Thuật nói đang trên đường ra sân bay, đi công tác với hiệu trưởng và đồng ý phương án trả lời qua email theo nội dung câu hỏi mà chúng tôi đã gửi từ ngày 20.9 cho Phòng tổng hợp.

Nhưng đến ngày 28.9, vẫn chưa thấy email trả lời của ông Thuật như đã hứa, PV gọi lại thì ông Thuật lại viện lý do để từ chối. “Việc này tôi báo cáo lại hiệu trưởng thì Hiệu trưởng nói việc phát ngôn phải thông qua Bộ Xây dựng, cơ quan chủ quản của nhà trường”, ông Thuật nói.

Thật khó hiểu khi một sự việc liên quan tới cựu sinh viên của trường mình, nhưng không hiểu sao lãnh đạo Đại học Kiến trúc lại phải đùn đẩy trách nhiệm cung cấp thông tin lên tận Bộ Xây dựng (?)

Trước đó, theo thông tin phản ánh của độc giả qua đường dây nóng, có một số vấn đề chưa rõ trong việc bị can Trịnh Xuân Thanh được cấp bằng kỹ sư tại Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Cụ thể: Bị can Trịnh Xuân Thanh học tại Đại học Kiến trúc Hà Nội ngành Kỹ thuật hạ tầng và môi trường đô thị giai đoạn từ năm 1985-1990, nhưng phải tới năm 2003 mới nhận bằng tốt nghiệp?

Năm 1999, bị can Trịnh Xuân Thanh thi lại môn tiếng Nga được 7 điểm. Liệu có phải Trịnh Xuân Thanh đi học là để trả nợ môn Nga văn bị nợ năm học cuối từ 1990 để làm tốt nghiệp Đại học Kiến trúc hay không? Có quy chế nào cho phép một sinh viên bảo lưu kết quả sau 9 năm?

Thực tế, trong giai đoạn từ 1985 – 1990, quy chế bảo lưu điểm của Bộ Giáo dục – Đạo tạo là không quá 2 năm. Nếu sau thời gian bảo lưu 2 năm này không trả được thì sinh viên sẽ bị đánh trượt Đại học.

Dư luận có quyền đặt câu hỏi vì sao thời gian bảo lưu của bị can Trịnh Xuân Thanh ở Đại học Kiến trúc Hà Nội lại được kéo dài như vậy? Có sự ưu ái nào của lãnh đạo nhà trường thời gian đó có Trịnh Xuân Thanh hay không?

Dân Việt đã gửi công văn liên hệ với Bộ Xây dựng để xin cung cấp thông tin về vấn đề này để tiếp tục chuyển tải thông tin mới nhất tới độc giả.

Trước đó, như Dân Việt thông tin, tối ngày 16.9, Bộ Công an phát lệnh khởi tố và truy nã quốc tế với ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị PVC.

Ông Trịnh Xuân Thanh (50 tuổi) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (C46, Bộ Công an) khởi tố tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 165 Bộ luật hình sự. Xác định bị can đã bỏ trốn, Bộ Công an phát lệnh truy nã quốc tế với bị can này.

Từ hơn một tháng trước đó, ông Thanh xin nghỉ phép ra nước ngoài để trị bệnh gout. Tuy vậy, hết phép, ông Thanh không trở lại nhiệm sở, số điện thoại thường dùng mất liên lạc. Tỉnh uỷ Hậu Giang, nơi ông Thanh làm việc, không biết ông ở đâu.

Thanh Xuân 

(Dân Việt)

Một bài viết của nhà báo Huy Đức mô tả mang nặng tính ‘thủ thuật điều hành’ của PVC nói riêng dẫn đến việc thua lỗ, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng trong thời gian 2011-2013 và của PVN nói chung. Trong bối cảnh Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ‘phát động’ chống quốc nạn tham nhũng và lợi ích nhóm. Rõ ràng tác giả Huy Đức đang nói rằng đằng sau Trịnh Xuân Thanh là còn những người khác cần chịu trách nhiệm chính trong việc thất thoát tài sản này.


Diễn biến 'Trịnh Xuân Thanh' còn phức tạp

Ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang của Việt Nam, đang bị chính quyền phát lệnh truy nã quốc tế.

Việt Nam hiện nay đang khó khăn rất lớn khi vận hành nền kinh tế và thể chế.

Những ‘di sản’ về kinh tế của nhiệm kỳ trước (các chương trình cả kinh tế và chính trị ở Việt Nam được hoạch định 5 năm 1 lần) để lại là rất nặng nề và sẽ mất nhiều năm và nguồn lực để sửa chữa.

Hậu quả không chỉ làm suy giảm niềm tin trong dân chúng mà, hơn thế về mặt thể chế, tạo ra sự khác biệt về lợi ích và giá trị trong giới lãnh đạo, hình thành những nhóm lợi ích khó dung hòa, nguy hại cho sự phát triển đất nước.

Bối cảnh

Đại hội 12 của đảng Cộng sản chỉ là tiếng ‘thở phào’ cho việc kết thúc một nhiệm kỳ 5 năm cầm quyền căng thẳng, nhưng những bất đồng sâu sắc vẫn còn đó, cần được ‘giải quyết’ để củng cố quyền lực, và ở khía cạnh nào đó, làm ‘thỏa mãn’ những bức xúc từ dân chúng hòng lấy lại niềm tin.

Đại hội 12 của đảng Cộng sản chỉ là tiếng ‘thở phào’ cho việc kết thúc một nhiệm kỳ 5 năm cầm quyền căng thẳng, nhưng những bất đồng sâu sắc vẫn còn đó.

Trong bối cảnh đó, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ‘phát động’ chống quốc nạn tham nhũng và lợi ích nhóm, có vẻ ngẫu nhiên, từ hiện tượng ‘Trịnh Xuân Thanh’ – một cán bộ cỡ trung, nguyên phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, đi xe tư nhân hạng sang nhưng gắn biển xanh (nhà nước)…

Sự việc đẩy lên, khi Quốc hội hủy tư cách đại biểu của Trịnh Xuân Thanh, Ủy ban kiểm tra trung ương đảng yêu cầu làm rõ về quy trình bổ nhiệm và trách nhiệm cá nhân cán bộ này, với tư cách là chủ tịch hội đồng quản trị, đối với việc thua lỗ hơn 3200 tỷ đồng tại PVC (Công ty xây lắp dầu khí thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia PVN), và cao trào là việc ông Thanh bỏ nhiệm sở.

Có tin đồn Trịnh Xuân Thanh đã trốn ra nước ngoài. Như mọi người biết, sau đó 4 cán bộ của PVC, trong đó có nguyên tổng giám đốc Vũ Đức Thuận bị khởi tố về hành vi cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Ông Thanh cũng bị khởi tố với tội danh trên và bị truy nã quốc tế.

Một bài viết đăng trên Facebook của nhà báo Huy Đức là một trong loạt bài liên quan đến vấn đề nóng nêu trên. Bài này mô tả mang nặng tính ‘thủ thuật điều hành’ của PVC nói riêng dẫn đến việc thua lỗ, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng trong thời gian 2011-2013 và của PVN nói chung. Rõ ràng tác giả Huy Đức đang nói rằng đằng sau Trịnh Xuân Thanh là còn những người khác cần chịu trách nhiệm chính trong việc thất thoát tài sản này.

Ngoại trừ bài viết của ông Vũ Ngọc Hoàng có đề cập ‘bóng gió chung chung’ về nhóm lợi ích và tham nhũng đã ‘lan vào chốn thiêng liêng’ là tạo ra được sự chú ý. Cho đến nay, báo nhà nước không hề có bài viết nào tương tự.

Đả hổ, diệt ruồi?

Xâu chuỗi các sự kiện dồn dập, từ lời phát biểu chống tham nhũng, lợi ích nhóm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến việc ông tham gia Đảng ủy Bộ công an ngày 24/9 vừa qua, người ta đồn đoán rằng ‘hiện tượng Trịnh Xuân Thanh’ bắt đầu cho chiến dịch ‘Đả hổ, diệt ruồi’ như kiểu Tập Cập Bình.

Gần đây, tin tức trên mạng xã hội đa dạng và nhanh chóng lan tỏa đã làm cho các lãnh đạo nhà nước cũng để ý.

Phản ứng quyết liệt của lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa và cá nhân ông Bí thư tỉnh trước ‘tin mạng’ rằng ông có ‘bồ nhí’ với những tài sản khủng được cho là của tham nhũng đã cho thấy điều đó!

Bài viết của Huy Đức là một kiểu tin mạng. Liên kết các sự việc, ‘lề trái’ suy diễn liệu có ‘thế lực’ nào đứng sau bài viết, liệu có sự ‘gửi gắm’ vào mạng xã hội để phát đi một ‘tín hiệu’, một thông điệp’ về ‘chiến dịch Đả hổ, diệt ruồi’ hay không?

Không thể và không cần ‘chụp mũ’ Huy Đức vì những suy đoán như trên, nhưng những kiểu ‘làm ăn’ như Huy Đức nêu ra, của một số doanh nghiệp nhà nước là khá phổ biến, và hậu quả nhiều dự án đắp chiếu, hoang tàn, trở thành đống sắt vụn hoặc lỗ nặng kéo dài mà chưa có cách ‘chôn’, mà chưa có cá nhân, ‘nhóm lợi ích’ nào chịu trách nhiệm là có thật...

Đó không chỉ là tổn thất, là gánh nặng cho nền kinh tế, mà còn là ‘sự bế tắc’ ‘bất lực của các lãnh đạo của nhiệm kỳ này để ‘lấy lại niềm tin’ của dân chúng!

Diễn biến ‘vụ Trịnh Xuân Thanh’ đang rất căng thẳng và phức tạp. Hãy chờ xem!

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà phân tích chính sách công của Việt Nam đang làm việc tại Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư.

(BBC)

Đoàn Thanh tra của Bộ Tài nguyên- Môi trường chủ trì sáng nay 28-9 đã công bố quyết định thanh tra môi trường dự án Núi Pháo tại Thái Nguyên. Dự kiến, việc thanh tra toàn diện môi trường dự án Núi Pháo sẽ kéo dài trong thời gian 45 ngày, tính từ ngày 28-9.


Sáng 28-9, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Nguyễn Thanh Tuấn, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) tỉnh Thái Nguyên xác nhận, sáng nay Đoàn thanh tra Bộ TN-MT đã công bố quyết định thanh tra toàn diện môi trường dự án Núi Pháo.

Đoàn thanh tra do ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) làm trưởng đoàn; bà Trần Thị Minh Hương, Phó Giám đốc Sở TN-MT tỉnh Thái Nguyên là một trong 3 phó trưởng đoàn thanh tra.

Dự án Núi Pháo là dự án khai khoáng lớn nhất Việt Nam của Công ty TNHH Khai thác và Chế biến khoáng sản Núi Pháo (Công ty Núi Pháo) thuộc Công ty CP Tài nguyên Masan (Công ty Masan).

Mỏ Núi Pháo tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, được xem là mỏ có trữ lượng vonfram lớn nhất thế giới, đang do công ty Masan Resources đầu tư và khai thác.

Theo ghi nhận của Báo Người Lao Động, sau một thời gian đi vào hoạt động, dự án này nhận được nhiều khiếu nại của người dân về tình trạng gây ô nhiễm môi trường cũng như giải quyết chưa rốt ráo việc di dời các hộ dân ra khỏi khu vực ô nhiễm.

Các cơ quan chức năng của tỉnh Thái Nguyên cũng nhiều lần có kiến nghị lên Bộ TN-MT để xử lý một số vấn đề liên quan tới dự án này.

Trước đó, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết qua thanh tra, Bộ TN-MT sẽ cùng với UBND tỉnh Thái Nguyên hướng dẫn, chấn chỉnh Công ty Núi Pháo phải thực hiện đúng pháp luật; nếu phát hiện các vi phạm sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, đồng thời giải quyết thỏa đáng các kiến nghị, khiếu nại của người dân đối với hoạt động của Công ty.

N.Quyết

(Người Lao Động)


Ngày 26 tháng 9, hơn 600 cư dân Quỳnh Lưu, Nghệ An, với sự giúp đỡ của các luật sư đã đệ đơn khởi kiện Formosa ở Tòa án Nhân dân Thị xã Kỳ Anh, nơi nhà máy của tập đoàn này trú đóng.

Diễn biến này là bước kế kiếp trong tiến trình đấu tranh pháp lý được khởi động từ gần một tuần trước đây với việc hơn 1000 hộ dân ở xã Kỳ Lợi, Kỳ Anh gửi đơn kiến nghị trực tiếp đến Chính phủ và Quốc hội đòi được đền bù hơn 2000 tỷ đồng (gần 100 triệu USD) từ số tiền 500 triệu USD bồi thường từ Formosa cho những thiệt hại về vật chất, tinh thần và sức khỏe mà họ đã, đang và sẽ gánh chịu vì thảm họa cá chết hàng loạt mà tập đoàn này gây ra thời gian vừa qua.

Hơn 1000 hộ dân này, trong đơn của mình cũng đã đặt ra cho Chính phủ và Quốc hội thời hạn 2 tuần để giải quyết nguyện vọng của họ, trước khi họ tiến hành khởi kiện Formosa, tương tự như việc 600 cư dân Quỳnh Lưu vừa thực hiện.

Đấu tranh pháp lý không phải là lựa chọn đầu tiên của người dân các tỉnh miền Trung trong vụ việc này, song lại là lựa chọn khả dĩ duy nhất sau khi Chính phủ thất bại trong việc đưa ra những giải pháp hiệu quả nhằm đạt được công lý.

Việc từ bỏ tiến trình tư pháp để lựa chọn giải pháp đàm phán với Formosa dẫn đến con số đền bù vô căn cứ là 500 triệu đô đổi lại việc tập đoàn này được ở lại hoạt động, đang đặt Chính phủ trước tình thế tiến thoái lưỡng nan chưa biết sẽ đối phó như thế nào.

Đồng ý với mức đòi hỏi hỗ trợ của hơn 1000 hộ dân Kỳ Anh thì số tiền 500 triệu đô hẳn chưa đền bù nổi thiệt hại của một huyện ở Hà Tĩnh, chứ nói gì đến cả 4 tỉnh miền Trung.

Nhưng nếu không đồng ý thì người dân sẽ kiện Formosa ra tòa, và họ hoàn toàn có đầy đủ cơ sở pháp lý để làm điều đó.

Khi đó, nếu để tòa án hoạt động độc lập chắc chắn họ sẽ thụ lý đơn của người dân và khả năng rất cao là tuyên Formosa thua kiện, trước những chứng cứ rõ ràng về sai phạm của tập đoàn này thể hiện qua việc họ đã công khai nhận lỗi gây ra thảm họa cá chết.

Một phán quyết như vậy, đến lượt nó, sẽ kéo theo một cơn lũ đơn kiện đến từ hàng triệu người dân miền Trung khác đã, đang và sẽ chịu thiệt hại trực tiếp cũng như gián tiếp từ thảm họa cá chết, không chỉ trong lãnh vực ngư nghiệp mà còn bao gồm các ngành dịch vụ khác như lữ hành, lưu trú, ăn uống.

Khi đó Formosa lấy tiền đầu ra để bồi thường, khi mà chỉ riêng Quảng Bình tạm tính vài thàng vừa qua đã thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng?

Trái lại, nếu thao túng tòa án để không thụ lý đơn, chính quyền sẽ xuất hiện trước công chúng như một tổ chức bất chấp công lý và sự khốn khổ của người dân để bảo vệ đến cùng Formosa – thủ phạm gây ra chính sự khốn khổ đó.

Điều này không chỉ làm xói mòn tận gốc rễ tính chính danh chế độ mà còn kích động sự giận dữ của quần chúng, đặc biệt là nhân dân 4 tỉnh miền Trung, thứ mà đến lượt nó không biết sẽ dẫn đến đâu.

Theo CTM

Mức an toàn trong hệ thống điện toán nói chung, cũng như hệ thống điện toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đang bị đe dọa. Chiến tranh du kích trên mạng điện toán tại Việt Nam đang bị kẻ thù phương Bắc tấn công, nhằm “tập trận”cho cuộc chiến tài chánh quy mô được điều phối nhịp nhàng với mặt trận tiền giảBóng ma tin tặc trong ngân hàng Việt Nam. 
 


Tầu cộng đã dùng “nội gián kế” trong binh pháp Tôn Tử [1], cài người vào rất nhiều lãnh vực, riêng hệ thống điện toán, mới lộ ra sau lần “ra quân” mang tính diễn tập đứt quãng từ cuối tháng 7 kéo dài đến cuối tháng 8 vừa qua. Trong các lần đánh thử, khi riêng rẽ, lúc dính chùm, Tầu cộng đã làm chủ tình thế toàn hệ thống điện toán của Việt Nam Airlines cùng lúc với hệ thống truyền thanh hai phi trường lớn nhất Việt nam.

Sau đó là các trận đánh vào khối Tín Dụng Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) Việt Nam, khiến Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) Việt Nam cuống cuồng la lối các NHTM là “thiếu bảo mật”. Gần một tháng sau, Thủ Tướng Phúc mới ra văn thư đòi bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thanh toán của hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Việt Nam.

Lần sơ lại các sự kiện: cuối tháng 07 vừa qua, hai sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất bị nhóm tin tặc 1937cn Tầu cộng tấn công vào hệ thống điện toán điều hành, ảnh hưởng đến 100 chuyến bay, bí mật của hàng trăm ngàn hành khách của công ty Vietnam Airlines bị tin tặc đánh cắp. Website của nhóm 1937cn bằng Hoa ngữ thanh minh “quy chụp cho chúng tôi tấn công trên mạng là thiếu tính khoa học”. Về phía Hanoi thì bảo là “sự việc đang trong quá trình điều tra, nên chưa thể cung cấp thông tin”.

Đầu tháng 8, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) yêu cầu hệ thống ngân hàng thương mai “Tăng cường các biện pháp an ninh, phát hiện và xử lý các lỗ hổng, bảo mật hệ trong thống công nghệ thông tin”.

Giữa tháng 08, một khách hàng của Vietcombank, bị tin tặc tấn công lấy mất 500 triệu đồng trong thẻ ATM.

Cuối tháng 08, ngân hàng Thinh Vượng (VP Bank), bị khách hàng tố cáo làm “26 tỉ đồng trong tài khoản biến mất”, khách hàng nạn nhân là một công ty đầu tư & phát triển.

Nêu lên các sự kiện này để thấy mức an toàn trong hệ thống điện toán nói chung, cũng như hệ thống điện toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đang bị đe dọa. Chiến tranh du kích trên mạng điện toán tại Việt Nam đang bị kẻ thù phương Bắc tấn công, nhằm “tập trận”cho cuộc chiến tài chánh quy mô được điều phối nhịp nhàng với mặt trận tiền giả, cũng đang công khai rao bán lẻ tẻ trên Facebook, sẽ đồng khởi khi đúng thời điểm.

Trước đó, 22-08, Bắc kinh đã cho tập trận bắn đạn thật ngay tại vịnh Bắc Bộ[2]. Các sự kiện đã phối hợp nhịp nhàng trong cùng một chuỗi áp đảo Dân Tộc Việt Nam của cả hai đảng Việt cộng và Tầu cộng.
 

Vào dịp ông Nguyễn xuân Phúc, Thủ Tướng Việt cộng duyệt hàng quân danh dự với người đồng nhiệm trong chuyến thăm Trung cộng 6 ngày, khởi đầu hôm 10-09, riêng về thương mại, ông Phúc kêu gọi Bắc Kinh “xuất sang Việt Nam những hàng hóa có chất lượng cao hơn, nguồn gốc rõ ràng, cũng như bảo đảm mặt an toàn, vệ sinh của các loại thực phẩm”.

Hai ngày sau, với toan tính trước, Bắc Kinh “hồi đáp” bằng cuộc tập trận với Nga, kéo dài 8 ngày, từ 12-09, nhằm “thao diễn chiến thuật chiếm hải đảo” [3] ngay tại Biển Đông, nơi hai bên đang tranh chấp chủ quyền. Lần thao diễn này có sự phối hợp của Hải quân và Thủy Quân Lục chiến hai nước, trang bị võ khí hạng nặng và tầu ngầm... Phía Nga còn xác đinh “đứng cùng chiến tuyến với Trung cộng trong tranh chấp Biển Đông”. Hanoi cảm thấy ra sao khi “đàn anh 16+4” cùng với “ông thầy Nga” hành động “vỗ mặt” chế độ trước toàn thế giới!

Chiến tranh tài chánh trên mạng điện toán, khi khởi đầu quy mô, thì hầu như trong chớp nhoáng, có thể làm tê liệt toàn hệ thống giao dịch tài chánh ngân hàng thương mại của nước bị tấn công. Trong lần đánh thử vừa qua, tin tặc Tầu cộng đã tấn công các máy vi tính (cyber attacks), và lấy trọn các dữ kiện thông tin của 411 ngàn cá nhân hay đại diện các cơ quan mua vé máy bay trên website Vietnam Airlines bằng thẻ tín dụng. Nhiều hành khách là quan đỏ bị tin tặc gom nguyên các thông tin cá nhân, chức vụ, nhiệm vụ và cơ quan làm việc. Thẻ tín dụng cấp trước đó, được khách hàng dùng mua vé máy bay qua Website Vietnam Airlines đã bị các ngân hàng vô hiêu hóa.
 



Chuyên gia đầu tư và tài chánh trong giới ngân hàng thương mại hay ngân hàng trung ương của nhiều nước cho hay, thiếu “nội gián” khó mà làm nên cơm cháo gì. Yếu tố “tay trong và thiếu phòng gian, bảo mật”, đưa tới các cuộc tấn công dễ dàng vào hệ thống điện toán.



Nhóm tin tặc 1937cn của Tầu cộng bị nêu đích danh chủ mưu cuộc tấn công hai phi trường Nội Bài và Tân Sơn Nhất cuối tháng 07. Như vậy trong cơ cấu điều hành điện toán của Vietnam Airlines có nội gián Trung cộng “mở cửa” theo chỉ thị từ gốc, để bọn tin tặc làm chủ tình thế suốt 90 phút. Các màn hình và loa phóng thanh tại hai phi trường đều loan truyền các thông tin kích động, xúc phạm Việt Nam và Philippines, xuyên tạc nội dung về Biển Đông. Theo các chuyên gia an ninh, trang 1937cn.net được lập ra với mục đích khiêu khích tấn công vào các website của Việt Nam.

Một sự kiện khác, báo chí của cộng đảng cũng nhìn nhận, trước đây tại nhiều nơi khác nhau, hiện tượng bị cướp làn sóng phát thanh đã xẩy ra nhiều, nhưng bị lâu nhất là ngày 27-08, “đài phát thanh Hội An, tỉnh Quang Nam bị tin tặc cướp làn sóng để phát thanh toàn tiếng Tầu suốt 30 phút” [4].

Tuy nhiên, nhóm 1937cn, khó mà làm nên cơm cháo gì, nếu không có tay trong. Việc nội gián còn cho thấy hàng chục năm nay, 90% các dự án lớn của Việt Nam đều vào tay nhà đầu tư Trung cộng.

Trong chiến tranh quân sự hay kinh tế, kẻ nội thù có thể là một phụ nữ trẻ đẹp, thi hành mỹ nhân kế hay một nhân viên làm nội gián, đưa tin tức để mở đường cho các cuộc tấn công từ bên ngoài, kể cả việc giành thị phần trong thương trường hay các dự án kỹ nghệ. Bên ngoài Bắc Kinh tiếp tục ve vãn bằng “16 chữ vàng, 4 tốt”, nhưng đàng sau, họ âm thầm cho Hanoi “vào rọ” qua kế “tiếu lý tàng đao”[5]

Ngay sau khi các vụ hacker lấy mất tiền tại các ngân hàng, giới chuyên gia tài chánh trong nước cảnh báo, về kẽ hở lớn, nguy cơ niềm tin của người dân đối với các ngân hàng bị lung lay và tiền của người Việt sẽ chảy vào các ngân hàng nước ngoài.

Khi rà soát lại quy trình giao dịch, các ngân hàng phải xem xét lại trình độ nghiệp vụ của nhân viên, đặc biệt việc triển khai chính sách chăm sóc khách hàng VIP của ngân hàng.

Các ngân hàng không thể thoái thác trách nhiệm, với một thông cáo ngắn gọn “đã thực hiện đúng quy trình” để đùn đẩy lỗi lầm, mà ngân hàng làm mất tiền phải bồi thường cho người gởi tiền trước các công việc khác.

Cựu Thống đốc NHNN, ông Cao Sỹ Kiêm được báo đảng hôm 25/8 dẫn lời: "Nếu tiền bốc hơi mà không có chữ ký của khách hàng, ngân hàng phải trích từ quỹ rủi ro bồi thường trước, lỗi của ai sẽ làm rõ sau đó”.
 

Bà Trần Thị Thanh Xuân, giám đốc công ty đầu tư và phát triển Quang Huân - khách hàng của VPBank và là nạn nhân trong vụ mất 26 tỷ, ngày 24-08, khẳng định “có sự câu kết của nhân viên VPBank với nhân viên Công ty Quang Huân, gây ra thiệt hại cho công ty của bà, nhưng ngân hàng VPBank cố tình đùn đẩy trách nhiệm”.

Nhiều báo trong nước trong đó có Tuổi Trẻ Online, Zing.vn đều đăng tin về tiền giả rao bán công khai trên Facbook.

Đối với từng lớp tư bản đỏ, họ gần như đem hết tài sản quốc gia, gom được từ nhiều năm làm tham quan cùng với gia đình dự tính ra nước ngoài sinh sống. Cuối tháng 8, báo Dân Trí dẫn nguồn Bộ Tư pháp [6], nói, chỉ trong năm 2015, có 4, 474 người bỏ quốc tịch Việt Nam sang nước khác sinh sống. Chưa kể trên mười ngàn cuộc hôn nhân với người nước ngoài, cũng như những người bỏ nước ra đi, nhưng vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam. Gần đây, việc đại gia Trương Đình Anh, chủ tịch tập đoàn FPT đưa cả gia đình qua Mỹ sống; rồi đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Nguyệt Hường có quốc tịch Malta…

Trên trang điện tử, từng đăng biết bao nhiêu vụ quan chức tham nhũng tiêu pha, ăn xài như vua; Còn có cả hình ảnh của một phụ nữ 40 tuổi, ở tinh Sơn La, chết vì lao phổi, nghèo đến độ gia đinh phải bó xác của bà trong manh chiếu! (BBC, 15-08)

Ông Trịnh Xuân Thanh, Đai Biểu Quốc Hội, Phó Chủ Tịch Tỉnh Hậu Giang, rời Việt Nam bí ẩn, đang ở một nước Tự Do, công khai bỏ đảng, vì "không còn tin vào sự lãnh đạo của đồng chí Tổng Bí thư".

Theo báo mạng, vụ ông Thanh “còn có nhiều uỷ viên Bộ Chính Trị khác liên quan”. Ông Thanh tố ngược TBT Trọng từng nhận hối lộ nhiều lần dưới hình thức quà biếu từ xưa. Vụ gần đây là tượng HCM đúc bằng vàng, được trao tay khi ông Trọng thăm Formosa cuối tháng 04-2016, trong vụ thảm họa môi trường biển Miền Trung. Do đó, ông Thanh thách thức TBT Trọng đối chất về tham nhũng trong một phiên tòa công khai [7], có luật sư, báo chí và đại diện nhân quyền quốc tế.

Ông Thanh được Blog Người Buôn Gió yểm trợ. Cả hai “so găng” không cân sức với đảng csVN. Cuộc chiến kéo dài 10 ngày. Cả làng báo đảng được lệnh nhập cuộc gặp đâu đánh đấy. Phía ông Thanh tung ra tòan đại pháo. Hanoi cho hưu chiến ngày 13-09. Hôm sau Người Buôn Gió “đáp lễ” bằng bài thứ 15 – phần kết, mang nội dung lạc quan về cuộc sống mới của “thân chủ”.

Bực bội vì “con mồi” đang nhởn nhơ ngòai “tầm với”, Hanoi đưa ra lệnh truy nã quốc tế đối với ông Thanh. Nhưng nếu quốc gia ông Thanh đang tá túc, không ký hiệp ước dẫn độ với Việt Nam, thì lệnh truy nã, dẫn độ chỉ để chữa thẹn cho chế độ.

Trong cộng đảng, rất nhiều người đã đặt đầu mối ở nước ngoài, sẵn Visa. Họ dễ dàng rời Việt Nam khi hết thời ăn bẩn. Tổng số sinh viên, học sinh Việt Nam, phần lớn là con đảng viên và thân thuộc ở nước ngoài là 110 ngàn; riêng tại Mỹ đã chiếm tới 19 ngàn từ tiểu học đến hậu đại học [8]. Số liệu này chỉ cho riêng năm 2015. Du học sinh đi học nước ngoài khá tốn kém. Phải là thứ tư bản đỏ, hay sân sau lắm tiền, nhiều của mới dám cho con cái đi du học. Đó là những bằng chứng rõ ràng cho thấy sự chuẩn bị tháo chạy khỏi Việt Nam khi có biến động hay lúc phe nhóm họ mất quyền.

Tình trạng Viêt Nam như diễn tả là hiện tượng nền kinh tế đang “mất máu”, vì cả đảng cầm quyền tham nhũng có hệ thống cả chục năm nay. Tiền vơ vét của dân làm của riêng lại được chuyển ra khỏi nước.

Những kẻ chóp bu ở Hà Nội sẽ làm gì trong tình huống dở khóc, dở cười : tiền thì chả còn bao nhiêu, lại bị đàn anh Phương Bắc tấn kích và làm nhục tứ bề. Cảnh túng quẫn đang hối thúc từng ngày và những cơ hội mới đầy mầu mỡ như TPP lại chưa đến. Thành ra phải xoay qua moi túi các nhóm không cùng phe phái, gây ra cảnh ám toán lẫn nhau, đấu đá khốc liệt ngay trong nội bộ đảng. 

Đối với đa số dân chúng, nạn nhân của chế độ tàn ngược, từ thiếu hiểu biết, viễn kiến về nguồn Cửu Long đưa đến Miền Tây ngập mặn; đến lòng tham quá độ trong thảm họa Formosa xả độc, đang được Hanoi mua thời gian để cho “chìm xuồng”; lại đến Khu Liên Hợp luyện thép Hoa Sen ở Cà Ná, Ninh Thuận được hưởng nhiều ưu đãi, đang manh nha thành hình. Vào lúc dư luận hoang mang phản đối, Hanoi vội ra lệnh cho báo chí không được bàn tán gì tới dự án Hoa Sen, Ca-ná nữa, để cũng như Formosa, bằng mọi giá, Hanoi âm thầm cho Hoa Sen đi vào hoạt động, nhằm thu thêm tiền nuôi chế độ.

Hồi tháng 5, Hanoi tung bong bóng về kế hoạch huy động 500 tấn vàng trong dân chúng, dự tính đó bị dân chúng cảnh giác, khó thi hành. Nay quá bí, rất có thể tiền gởi trong ngân hàng Việt Nam, của mọi thành phần kể cá các tôn giáo, coi chừng bị chế độ dòm ngó và có ngày họ ra tay qua một vụ “hacker”. Trong tình huống này, dù điều nhơ nhuốc đến đâu cũng có thể được Hanoi toan tính.
 
Trần Nguyên Thao 
 
(Dân Làm Báo)

Công khai minh bạch là trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời cũng là vũ khí sắc bén của Nhà nước để nâng cao năng lực và phẩm chất của mình. Cao hơn cả, công khai minh bạch là phương tiện phát huy sức mạnh của nhân dân, đặc biệt trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước.
 

Bàn về sự minh bạch thông tin thì có lẽ điều phải nói tới trước tiên là lòng tin. Lòng tin là một yếu tố tâm lý, mặc nhiên là phải song phương. Không thể có lòng tin đơn phương mà bền vững được. Nếu lòng tin chỉ đơn phương thì chính là sự mê tín (tín = tin và mê = mê muội) – tin một cách mê muội! Để có thể tin nhau tuyệt đối thì có gì khác ngoài sự minh bạch với nhau. Hai phạm trù này là tiền đề và hệ quả của nhau. Khi một bên còn mập mờ hoặc còn nhiều góc khuất, “ẩn khuất”, thiếu hoặc không minh bạch, tỏ tường thì làm sao bên kia có thể tin được.

Đất nước ta đang trong giai đoạn cực kỳ khó khăn về kinh tế xã hội, nợ công, nợ xấu ở mức báo động, thu không đủ chi, lòng người ly tán. Nhìn vào cụ thể số liệu chi tiêu ngân sách của Nhà nước Việt Nam năm 2014, người dân thấy rõ Việt Nam là nước nghèo nhưng không kiểm soát được tình hình chi tiêu, lên đến 64 tỷ đô la bằng 34% GDP. Hay nói cách khác, ngân sách thực chi (gọi là quyết toán) vượt ngân sách được Quốc hội phê chuẩn (gọi là dự toán) rất lớn, ít nhất trên 30%. Điều này, cho thấy Quốc hội Việt Nam đã buông lỏng, vai trò, trách nhiệm làm luật và giám sát hoạt động của Nhà nước. Chuyên gia Vũ Quang Việt đã có bài viết phân tích rất xác đáng “Kế toán ngân sách của Việt Nam không giống ai”.

Nhiều người hoan nghênh trước thông tin Bộ Tài chính mong muốn cơ quan quản lý chọn phương án công khai toàn bộ báo cáo ngân sách nhà nước. Riêng nội dung công khai thuyết minh quyết toán ngân sách nhà nước, ban soạn thảo đề xuất hai phương án thực hiện.

Thứ nhất là công khai toàn bộ báo cáo thuyết minh quyết toán ngân sách nhà nước Chính phủ trình Quốc hội (trừ các thông tin mật không được phép công bố về lĩnh vực quốc phòng, an ninh và dự trữ quốc gia).

Thứ hai là công khai một số thông tin cơ bản về quyết toán ngân sách nhà nước, bao gồm: kết quả thu ngân sách nhà nước; kết quả chi ngân sách nhà nước; bội chi ngân sách nhà nước và các nguồn bù đắp, bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương; tỷ lệ bội chi so với tổng sản phẩm trong nước và mức nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia (trừ các thông tin mật không được phép công bố về lĩnh vực quốc phòng, an ninh và dự trữ quốc gia) thay vì chỉ một số thông tin cơ bản.

Người dân hiểu rằng công khai minh bạch là trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời cũng là vũ khí sắc bén của Nhà nước để nâng cao năng lực và phẩm chất của mình. Cao hơn cả, công khai minh bạch là phương tiện phát huy sức mạnh của nhân dân, đặc biệt trong việc giải quyết những vấn đề khó khăn của đất nước.

Công khai minh bạch là những thước đo giá trị phổ quát của loài người, vừa là đích phấn đấu, vừa là động lực của sự phát triển. Những xã hội, đất nước nào thực sự đề cao nó thì đều đã hoặc sẽ hứa hẹn phát triển hướng đến văn minh. Những nơi nào từ chối nó hoặc chỉ nói mà không làm thì đều luẩn quẩn trong vòng tăm tối của nghèo nàn, bất công, lạc hậu.

Một số sản phẩm của sự phát triển và nền dân chủ như các khái niệm pháp quyền, tự do ngôn luận, dân chủ, trách nhiệm giải trình… cũng như khái niệm công khai minh bạch không thể chỉ là các khái niệm “ngoại nhập” mà phải đi vào cuộc sống của người dân Việt Nam.

Cũng phải thấy rằng không có gì là “miễn phí” và một đất nước phải trả giá để được hưởng các giá trị văn minh ấy. Cái giá ấy lớn hay nhỏ tùy thuộc vào nhận thức, bản lĩnh của dân tộc ấy, và đặc biệt là tầm và sự can đảm của những người đang có quyền lực lớn trong xã hội.

Có ý kiến cho rằng so với Thông tư 03/2005/TT-BTC đang được áp dụng thì những đề xuất trong dự thảo thông tư có nhiều điểm hoàn thiện hơn về việc công khai thông tin ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, theo tôi hiểu vẫn còn nửa vời, bởi vì, nếu đọc kỹ, ngẫm suy sẽ thấy trong dự thảo làm gì có hai phương án. Chỉ có 1 phương án là công khai một số thông tin cơ bản. Và cũng chỉ nói đến ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, chứ không đả động đến ngân sách các bộ, huyện, xã. Các ngân sách trên chỉ được báo cáo chứ không được công khai. Như thế, người dân chẳng có tiếng nói gì tới những điều trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của chính mình.

Ngay cái gọi là công khai bây giờ cũng ít giá trị vì chỉ là một số tổng, mà bị qua nhiều điều chỉnh không thể cộng lại với nhau được. Nếu công bố chi tiết, thì ta sẽ biết rõ cách ghi nào là không đúng theo chuẩn mực quốc tế.

Do đó, muốn minh bạch thông tin thì điều kiện tiền đề là phải thay đổi tận gốc luật pháp và những quy định hiện hành về vấn này, trong đó thực hành tự do báo chí và ngôn luận là việc quan trọng nhất.

Công khai minh bạch phải là định chế của xã hội. Minh bạch không chỉ là làm rõ qui luật, kế hoạch, qui trình và hành động, hay là để người dân biết tại sao, làm sao, làm gì và mức độ thế nào về hành động của Chính phủ và quyền của người dân.

Đảng và Nhà nước nếu tự coi mình là một chế độ chính trị vì nước vì dân, thì nên coi công khai minh bạch không những là một trách nhiệm ràng buộc, mà còn là một vũ khí sắc bén để tự rèn luyện chính mình, đồng thời cũng là phương tiện rất quan trọng phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tô Văn Trường

(Bauxite VN)

Người ta cho rằng trong 20 năm trời xây dựng quân đội, vũ khí của Trung Quốc chế tạo có khá hơn trước nhiều. Điều này đúng phần nào đó. Các loại vũ khí như chiến đấu cơ J-10, tàu ngầm hạng-Yuan, xe tăng T-99 chắc chắn là tốt hơn máy bay J-7, tàu ngầm hạng-Ming, xe tăng T-59, những thứ này chỉ là đồ nhái của vũ khí Liên Sô của thập niên 50s. Vũ khí sau này của Trung Quốc đương nhiên là phải có khá hơn.


Cùng lúc đó, một số vũ khí của Trung Quốc có tính cạnh tranh cao với vũ khí của Tây Phương và Nga. Thí dụ như là các loại máy bay (drone) không người lái, hỏa tiễn chống chiến hạm, hỏa tiễn SAM (đất đối không) vác vai, máy bay huấn luyện loại nhẹ. Nhưng tất cả điều này dẫn đến một điểm quan trọng: nếu vũ khí Trung Quốc tốt như thế, tại sao ít có quốc gia nào muốn mua?

Trên giấy tờ thì Trung Quốc có vẻ là một quốc gia xuất khẩu vũ khí thành công. Năm vừa rồi Bắc Kinh bán gần 2 tỉ đô la vũ khí. Từ 2011 đến 2015 cho thấy Trung Quốc đứng hàng thứ ba xuất khẩu vũ khí trên thế giới, chiếm 6% tổng số lượng thị trường vũ khí, gấp đôi số lượng xuất khẩu trong khoảng 2006 đến 2010.

Trong những năm gần đây, Bắc Kinh có một số vụ buôn bán khá ấn tượng, bao gồm hợp đồng bán 8 tàu ngầm hạng-Yuan cho Pakistan và 3 chiếc cho Thái Lan. Trung Quốc cũng bán xe tăng cho Miến Điện, hỏa tiễn chống chiến hạm cho Indonesia, drone có vũ trang cho Iraq, Á-rập Saudi, United Arab Emirates, Nigeria, và Ai Cập.

Vẫn còn là nhà xuất khẩu cò con:

Một vài vụ buôn bán nổi bật kể trên là ngoại lệ đối với Trung Quốc. Trong thị trường buôn bán vũ khí trên thế giới Trung Quốc vẫn còn là một anh cò con. Thứ nhất, Trung Quốc bán đa số vũ khí của mình cho một vài quốc gia. Thí dụ như trong 5 năm qua, hơn hai phần ba (71%) của số lượng bán là cho ba quốc gia: Pakistan, Bangladesh, và Miến Điện. Số lượng còn lại bán cho một số quốc gia nghèo ở Châu Phi như Algeria, Nigeria, Sudan, và Tanzania.

Xe tăng T-99. Ảnh: National Interest
Thứ nhì, phần lớn vũ khí bán ra thuộc loại xoàng: xe thiết giáp, súng đạn nhẹ, hoặc chiến đấu cơ nhái theo thiết kế cũ của Liên Sô. Một món hàng bán chạy nhất của Bắc Kinh là phản lực cơ K-8, một loại chiến đấu cơ đơn giản, tốc độ chậm, thích hợp cho các quốc gia đang phát triển không đủ tiền để mua chiến đấu cơ loại cao cấp. Nói chung, các loại vũ khí của Trung Quốc bán ra không phải loại làm thay đổi cục diện, tức là chúng không có tác động lớn đến quân bằng quyền lực trong vùng.

Vị trí dẫn đầu xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc thật ra rất mỏng manh. Tuy nói là đứng hàng thứ ba trong thị trường thế giới, Trung Quốc thua xa Hoa Kỳ với 33% thị trường và Nga với 25%. Trung Quốc chỉ hơn chút xíu các quốc gia như Pháp (5.6%), Đức (4.7%), và Anh (4.5%)

Rào cản khiến không mở rộng buôn bán vũ khí:

Để duy trì một trong những vị trí dẫn đầu về xuất khẩu vũ khí, Trung Quốc cần phải có những món hàng hấp dẫn hơn. Cần các loại vũ khí tối tân như chiến đấu cơ với tốc độ siêu thanh, vũ khí có dẫn hướng chính xác, máy bay cảnh báo sớm, hệ thống phòng không tầm xa. Đặc biệt, Bắc Kinh chưa bán được nhiều loại chiến đấu cơ tối tân nhất, loại J-10 và JF-17. Loại JF-17 cho đến nay chỉ có Pakistan mua - với lý do đơn giản là Pakistan sản xuất chung với Trung Quốc. Ngay cả không lực Trung Quốc còn chưa mua JF-17.

Ít có quốc gia nào khác chịu mua các hệ thống vũ khí khác của Trung Quốc, hoặc nếu có đi nữa thì họ tháo gỡ bộ phận Trung Quốc sản xuất để thay bằng thiết bị của Tây phương. Lý do là công nghiệp quốc phòng Trung Quốc còn rất yếu về các lãnh vực công nghệ quan trọng như động cơ phản lực và điện tử. Đơn cử thí dụ, một bài báo năm 2013 của New York Times tiết lộ là Algeria mua các tàu hộ tống nhỏ của Trung Quốc nhưng sau đó thế vào với các giàn rađa và thiết bị thông tin của Pháp. Máy bay JF-17 Pakistan sử dụng thì dùng động cơ phản lực của Nga, trong khi đó Thái Lan nhờ công ty Saab của Thụy Điển nâng cấp các khu trục hạm Trung Quốc sản xuất.

Trung Quốc cũng cần mở rộng nhóm khách hàng. Hiện thời chỉ bán vũ khí cho những quốc gia hoặc quá nghèo để mua vũ khí của Tây phương hoặc Nga, hoặc đang bị cấm vận vũ khí (như Venezuela). Ít có quốc gia giàu nào (như các nước sản xuất dầu hỏa ở vùng Vịnh, Trung Đông) chú ý đến vũ khí Trung Quốc. Iran từng là khách hàng sộp của Bắc Kinh nhiều năm, nhưng trong những năm qua chưa mua gì thêm. Tương tự vậy, Trung Quốc không chào hàng thêm được ai ở Nam Mỹ, Đông Âu, hay Trung Á.

Do đó trở lại câu hỏi nguyên thủy: nếu các hệ thống vũ khí Trung Quốc tốt như thế thì tại sao ít ai thèm muốn? Tại sao số khách hàng quá nhỏ và chỉ chú trọng vào một số ít hệ thống vũ khí? Từ đó người ta có thể luận ra là đa số vũ khí của Trung Quốc, tuy có tốt hơn xưa, vẫn thuộc loại xoàng xoàng, và các hệ thống vũ khí của Tây phương, Nga, Do Thái vẫn vượt xa hẵn vũ khí Trung Quốc.

Richard A. Bitzinger

Hoàng Thuyên lược dịch - National Interest

* Richard A. Bitzinger là nghiên cứu gia cao cấp và điều hợp viên của Chương Trình Biến Đổi Quân Sự tại Học viện Nghiên Cứu Quốc Tế S. Rajaratnam, Đại Học Công Nghệ Nanyang, Singapore.

(Việt Tân)


“Ngày 22/9, báo VietNamNet đăng tin "Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm giảng viên lớp bồi dưỡng cán bộ TP.HCM". Đây là thông tin không chính xác”. [http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/329467/dinh-chinh.html]

Tuy nhiên theo tài liệu mà phóng viên trang Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có được, thì trong lịch học có tên của ông Nguyễn Tấn Dũng trên cương vị “nguyên thủ tướng”.

400 học viên là các quan chức cấp cao nhất trong bộ máy quản lý của TP.HCM sẽ phải theo học một khóa gọi là “nghiên cứu, học tập” tại Học viện Cán bộ TP.HCM. Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ đứng lớp trong bốn buổi sáng từ ngày thứ ba 11-10 đến thứ sáu 14-10. Ông sẽ truyền dạy môn có tên là “Kinh nghiệm trong quản lý nhà nước”.

Trong thời gian từ ngày 27-9 đến 30-11-2016, dự kiến có 400 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan chính quyền, cơ quan đảng trú đóng ở TP.HCM, được chia làm 4 lớp, sẽ cùng nhau nghiên cứu, học tập 15 chuyên đề tập trung vào các nội dung: Những quan điểm, chủ trương, chính sách mới về công tác dân vận của đảng và nhà nước CSVN; vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới đất nước; kinh nghiệm trong quản lý nhà nước; thông tin kinh tế vĩ mô; quản trị chính quyền địa phương trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu…

Dự án bauxite: cặp đôi hoàn hảo Dũng – Hoàng

Ngày 29-4-2009, trên cương vị thủ tướng, ông Dũng ký ban hành công văn 650/TTg-KTN, gửi các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công an, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông; Ủy ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước, Bình Thuận, Cao Bằng, Lạng Sơn; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Theo đó, ông Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng được giao các đầu việc cụ thể như sau (trích):

(1) Rà soát lại quy hoạch bauxite trên cơ sở cập nhật tình hình và dự báo mới nhất về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu và đề xuất điều chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 và lập Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐCM), trình duyệt theo quy định hiện hành.
(2) Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương liên quan thẩm định thiết kế kỹ thuật hồ bùn đỏ của dự án Tân Rai và Nhân Cơ trên cơ sở trình của TKV, bảo đảm an toàn lâu dài đối với môi trường.
(3) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án alumine Nhân Cơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
(4) Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Tập đoàn TKV lập phương án vận tải sản phẩm đối với các dự án Tân Rai và Nhân Cơ tối ưu nhất để triển khai thực hiện khi dự án đi vào hoạt động. (5) Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ giám sát và đánh giá hiệu quả việc chuyển giao và ứng dụng công nghệ đối với các dự án nêu trên.
(6) Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương của Đảng và Chính phủ về phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản bauxite.
(7) Chuẩn bị báo cáo về tình hình thực hiện các dự án khai thác và chế biến bauxite ra Hội nghị Trung ương tới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại công văn này cũng yêu cầu “Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) triển khai các dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả kinh tế-tài chính”.

Gần một tháng sau đó, ngày 22-5-2009, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng đã ký Báo cáo số 91/BC-CP của Chính phủ gửi Quốc hội về việc triển khai các dự án bauxite gửi tới các đại biểu quốc hội. Một số tình tiết nêu trong báo cáo cho thấy dự án bauxite đã quyết định thực hiện, việc báo cáo ra quốc hội chỉ là một hình thức mang tính thủ tục; các tình tiết đó như sau (trích):

(1) Chủ trương lập dự án bô-xít - alumin Nhân Cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008).
(2) Tại thông báo 245 của Bộ Chính trị đã kết luận: “Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các Nghị quyết Đại hội, trong 2 nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các Nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên nói riêng”.
(3) Về việc Quy hoạch bô-xít không phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đã được làm rõ tại Hội thảo khoa học ngày 09 tháng 4 năm 2009 như sau: Theo quy định tại Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa 11 (Nghị quyết 66), chỉ có các dự án, công trình quan trọng quốc gia thì Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế - kỹ thuật như ngành điện, dầu khí, khoáng sản, thép v.v...) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66. Theo luật pháp hiện hành, thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy hoạch phát triển ngành là Thủ tướng Chính phủ.
(4) Trung Quốc có kinh nghiệm, có công nghệ sản xuất alumin (kể cả đối với quặng gipxit là loại quặng khó xử lý hơn) và là một trong các nhà sản xuất alumin-nhôm hàng đầu thế giới hiện nay. Sản phẩm alumin và nhôm sản xuất theo công nghệ thực tế đang áp dụng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Như vậy, công nghệ Trung Quốc đã được kiểm chứng qua thực tế và có thể áp dụng cho các dự án ở Việt Nam.
(5) Thông báo số 245-TB/TW ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị xác định: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài...”. Đến nay, chưa có một quy định hoặc quyết định cụ thể nào của Quốc hội và Chính phủ về “đưa Tây Nguyên vào địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh” và điều chỉnh bởi Nghị quyết 66. Bởi vì nếu như vậy, thì được hiểu là tất cả các dự án ở Tây Nguyên, không trừ một dự án nào, không phụ thuộc vào quy mô, tính chất cũng sẽ phải trình ra Quốc hội để thông qua chủ trương đầu tư.

Ông Dũng và ông Hoàng đã bỏ ngoài tai mọi phản biện

Tính đến thời điểm này, dự án bauxite đã lộ rất rõ những thua lỗ và liên tiếp xảy ra các sự cố.

Sáng 23-7-2016, sự cố đường ống Nhà máy Alumin Nhân Cơ (do nhà thầu Chalieco, Trung Quốc phụ trách) khiến hóa chất kiềm tràn ra bên ngoài, một phần kiềm thẩm thấu xuống lòng đất trong phạm vi 600m2, phần còn lại chảy theo đường ống đổ về suối Đắk Dao. Khi thấy cá trên suối Đắk Dao chết, nhiều người dân, trong đó có cả trẻ em đã lội xuống dòng suối này vớt cá về ăn. Ông Phan Diệu Anh, một trong những người phát hiện sự việc đầu tiên cho biết: “Khi đó, dòng nước có nhiều biểu hiện lạ so với bình thường, nước đục, có màu sẫm đen, trên bề mặt nổi váng loang lổ…; Tiếp xúc thấy có chất nhờn như nước bọt xà bông. Sau khoảng 10 phút tiếp xúc với nước, chân tôi bị ngứa, da khô cứng, căng ra; Những vùng da non bị đau rát, có chỗ rộp lên như bỏng nước sôi”.

Trao đổi với báo chí, PGS. TS. Nguyễn Văn Phổ, Viện Công nghệ địa chất và Khoáng sản, (Hội Địa chất Việt Nam) cho biết, nếu không cẩn trọng trong khai thác bauxite ở Nhân Cơ sẽ có nguy cơ thảm họa môi trường giống Formosa ở Tây Nguyên. PGS. TS. Nguyễn Văn Phổ bày tỏ lo lắng khi mới đây Nhà máy Alumin Nhân Cơ vỡ ống xút và tràn ra ngoài: “Quả thực đây là điều báo động cực kỳ nguy hiểm đối với quá trình sản xuất alumin ở khu vực Nhân Cơ. Về nguy hại lâu dài sẽ vô cùng khủng khiếp”.

Theo PGS. Phổ, ngay Trung Quốc cũng đã cấm hơn 100 nhà máy sản xuất nhôm theo hình thức chiết quặng bauxite. “Tây Nguyên là khu vực nằm ở vị trí đầu nguồn các con sông, suối chảy về Nam Trung bộ, Nam bộ. Nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường liên quan đến bauxite thì hậu họa sẽ khôn lường. Công nghệ xử lý bùn đỏ trên thế giới chưa nước nào chế ngự được xút. Nếu mà vỡ ra thì nguy hại toàn vùng, ảnh hưởng đến dòng chảy, môi trường sống của sinh vật ở các dòng sông, con suối trong khu vực… Tôi nghĩ ở góc độ tác hại môi trường chẳng khác gì Formosa”, PGS. Phổ lo ngại.

Đầu tháng 3-2013, trước tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng về trữ lượng bauxite của Việt Nam là 10-11 tỉ tấn, thì lập tức đã vấp sự phản ứng mạnh từ giới chuyên môn.

PGS-TS Nguyễn Khắc Vinh, Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, nguyên viện trưởng Viện Địa chất và Khoáng sản, nói rằng trữ lượng bauxite mà bộ trưởng nói đến chỉ là tài nguyên, còn muốn mở ra ngành công nghiệp bauxite - nhôm thì phải khoan thăm dò chi tiết, tính toán nhiều yếu tố chứ không thể căn cứ vào dự báo tài nguyên để làm luận chứng kinh tế cho dự án bauxite Tây Nguyên.

“Hơn nữa, cho đến nay, trên các tài liệu đã công bố, Việt Nam chỉ có 6,9 tỉ tấn tài nguyên bauxite, còn Mỹ nhận định trữ lượng bauxite của Việt Nam chỉ có 2,1 tỉ tấn. Tuy nhiên, khi thăm dò chi tiết, trữ lượng có thể thấp hơn nữa. Trong khi trữ lượng bauxite của cả thế giới chỉ có 38 tỉ tấn. Lâu nay, Việt Nam hay dùng khái niệm trữ lượng là không chính xác, thậm chí còn nói “vống” trữ lượng lên để gây phấn khởi”. PGS-TS Vinh nói.

PGS-TS Nguyễn Khắc Vinh đã “tạt gáo nước lạnh”: Về bauxite, nếu nhìn ở góc độ kinh tế và khoa học thì lỗ nặng vì thị trường thế giới không lớn. Đây lại là lĩnh vực mới, phải đầu tư số tiền khổng lồ, trong khi giá bauxite rất rẻ (khoảng 35 USD/tấn) nên không phải là sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

Mỗi năm, thế giới chỉ sử dụng 200 triệu tấn và với trữ lượng 38 tỉ tấn thì 100 năm nữa, thế giới mới sử dụng hết, điều này cho thấy nhu cầu về bauxite của toàn cầu là không nhiều. Vì vậy, nếu Việt Nam khai thác nhiều cũng chẳng bán được cho ai. Hiện nay, Trung Quốc gần như là khách hàng mua bauxite duy nhất của Việt Nam vì nhu cầu họ lớn nhưng trữ lượng có hạn.

Công bằng mà nói, nếu như không có sự gật đầu của ông tổng bí thư thì chắc chắn ‘có ăn gan trời’, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng không dám mạnh miệng quyết định về một dự án mà ai cũng thấy thua lỗ rõ ràng.

Tuy nhiên mọi góp ý về dự án bauxite này đều được xem là “ngoài luồng”, vì sau 3 năm “yên vị” ghế thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã không chấp nhận các lời chê trách, các phản biện về những chính sách của ông, bằng Quyết định 97/2009/QĐ-TTg được ông ký ngày 24 tháng 7 năm 2009; trong đó ở điều 2 mục 2 đã nhấn mạnh: nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ.

Theo VNTB


Góp phác họa một bức tranh vân cẩu của hiện tình đất nước, một vị quan to bước ra từ cửa lò đỏ, đã cống hiến một cụm từ vừa bự, vừa mới mẻ, lại cũng khá ỡm ờ, có ý nghĩa như một giải pháp cho sự nghiệp chống tham nhũng đang hồi rất gay go. Nó như sau:


Câu nói bất ngờ này làm làm hoang mang cho giới học trò và cả học giả. Tuy nhiên, nếu đã có một thứ “văn hóa phong bì” từng xuất hiện, thì nay “văn hóa khinh bỉ” ra đời có chi phải xét nét? Hãy cứ xem như một sáng tạo về văn hóa chữ nghĩa của một thời kỳ đặc biệt, và lạ gì một khi có cái đuôi xã hội chủ nghĩa, thì bầu trời trở nên bao la hơn, vượt nhiều thứ chuẩn mực đã có trước.

Những cách nói như văn hóa suy đồi, văn hóa xuống cấp,… hình như đã quá nghèo nàn, không còn khả năng gây cảm xúc. Nay cần nói theo một cách mới hơn để gây ấn tượng cho người dân?!

Mà nó gây ấn tượng thật!

Bậc đại quan làm được điều gây ấn tượng này là ông Đinh Thế Huynh, nguyên thống soái ngành văn hóa tư tưởng của đất nước, nay là nhân vật số hai của Đảng Cộng sản Việt Nam, là một trong những ứng viên dự kiến của ai đó để lên chức số một.

Cái cảm xúc khinh bỉ đối với tệ tham nhũng, đã có sẵn trong nhân dân, nhưng dường như chưa đủ mạnh, chưa đủ lớn, nên cần phải phát động tuyên truyền và đặc biệt là xây dựng thành một phong trào văn hóa rộng khắp, lâu dài, có tên là “văn hóa khinh bỉ”.

Vì là tham nhũng đã phát triển quá mức sâu rộng, lại tiếp tục trên đà tiến lên, đến nỗi nó chiếm lĩnh mọi trận địa mà “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” (cứ cho là đang có thật) chừng như không làm gì được. Sự lớn mạnh của nó, chính lời ông Tổng đương kim Nguyễn Phú Trọng khẳng định, rằng thì là “biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp gây bức xúc dư luận“; rằng thì là “Nó thành đường dây có tổ chức rồi, chứ không còn từng người một người ăn mảnh nữa“. Không có gì quý hơn… các câu này!

Nó nghiêm trọng đến thế nên ông Đinh Thế Huynh đã đưa ra đề án mới, xây dựng văn hóa khinh bỉ để thay hoặc hỗ trợ cho pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã chứng tỏ bất lực. Đó là một sáng kiến vi diệu, làm người ta nhớ ngay đến tác phẩm A.Q. chính truyện với “phép thắng lợi tinh thần”. Lấy lòng khinh bỉ làm động lực/biện pháp để giải quyết hay ứng xử với tham nhũng? Ông Huynh là nhà duy vật biện chứng, bỗng bất ngờ trở thành người duy tâm!

Mỗi người dân hãy cứ ngồi yên ở nhà, tự mình phát ra cái làn sóng khinh bỉ ấy. Nhưng ông nói, phải xây dựng cái khinh bỉ ấy thành một thứ văn hóa, suy ra ắt phải phát huy rộng lớn cái khinh bỉ ấy, làm lan truyền trong cả cộng đồng thành một sức mạnh tinh thần. Phải phát động cho vợ con, người thân trong gia đình, cả làng trên xã dưới cùng đồng lòng, đồng loạt khinh bỉ tham nhũng, như ông đã yêu cầu: “Phải tạo được áp lực xã hội mà những kẻ tham nhũng không chịu nổi”. Nhưng tạo bằng cách nào thì ông không nói rõ. Hẳn là từ đó sẽ sinh ra cái “tụ tập đông người”, có lời hô to để bắt nhịp, lại có biểu ngữ giương cao… Cái này gọi là bày tỏ tập thể, còn gọi là biểu tình, đã được Hiến pháp ghi từ 70 năm qua, nhưng đến nay Quốc hội còn hẹn, chưa làm kịp. Xúi dân bày tỏ theo cách ấy chắc không phải ý ông Huynh. Có thể ông không muốn hoặc không thích, có lẽ các đồng chí của ông cũng thế, nên Quốc hội còn đang ầu ơ ví dầu cầu ván đóng đinh… về cái luật ấy. Vậy là ý ông Huynh chỉ muốn người dân bày tỏ sự khinh bỉ của mình, theo cách một mình, và ở tại nhà mình, không được gây ảnh hưởng đến người khác, kể cả việc không được đưa lên net. Nhưng cách này thì kẻ tham nhũng hoàn toàn chịu nổi, vì không chạm đến cái lông chân của bọn họ.

Đề án văn hóa của ông Huynh – nổi tiếng là người kín đáo, ăn nói khéo léo – thoạt nghe là có lý nhưng thực hiện là không thể. Ông không (thể) chỉ ra cái cách xây dựng nó, nên ông đã tự biến hóa thành nhân vật chính trong A.Q. chính truyện với phép thắng lợi tinh thần được ông ứng dụng kịp thời và độc đáo.

Cái “giải pháp” văn hóa khinh bỉ do ông Huynh đưa ra kể cũng lý thú. Nó tạm thời thỏa mãn lòng dân, mà không gây hại ai cả, nhất là cái đối tượng bị khinh bỉ cũng an toàn. Thế là ông ấy đã hóa giải một cách tài tình cái mâu thuẫn có tính trường kỳ kháng chiến hiện nay giữa người dân và giới cầm quyền, để cả hai bên cùng thắng. Đúng là win-win, đang là khẩu hiệu thời thượng của các giới kinh doanh về hàng hóa, kể cả về kinh doanh ý tưởng. Nhưng đặc biệt hơn, biện pháp dùng văn hóa khinh bỉ đối với tham nhũng ngay vào lúc mà cuộc tấn công tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng đang gặp rối loạn, cũng là hữu ích phần nào.

Tuy nhiên, đã khó thực hiện, cái văn hóa khinh bỉ còn làm nảy sinh thêm những vấn đề nan giải khác lớn hơn nhiều.

Người dân mà nghe theo ông Huynh có thể tự biến thành những công dân mơ mộng. Còn những kẻ tham nhũng thì không thể ngồi nhà mà tiến hành văn hóa khinh bỉ đối với những kẻ tham nhũng khác và đồng thời với chính mình. Vì họ là như nhau, lại toàn là đồng chí nhau cả. Họ là đồng môn, đồng liêu, đồng sàng, lại đồng mộng. Họ là đối tượng của nhau, chứ không một người dân nào lọt vào đây cả. Bởi lẽ, ngồi nhà mà khinh bỉ nhau thì chẳng tới đâu. Nó phải phát lộ ra bằng sức mạnh tinh thần chuyển sang sức mạnh vật chất như giáo trình mà tất cả họ đã học, vì thế tham nhũng với tham nhũng tự nó va chạm nhau ác liệt. Có khi là tiếng va đập của dao búa, có khi là tiếng súng nổ dứt khoát, có khi là tác dụng êm ả của các loại hóa chất. Lợi hại hơn nữa là loại ám khí vô hình núp dưới bóng chữ nghĩa hay con số, vốn làm nắp che cho quyền lực. Có những con số 3.000 tỉ, 10.000 tỉ hay cao hơn nữa. Cũng có những con số rất dễ sợ, như con số 1950 hay 1956.

Có nên vội vàng khen ông Huynh chăng, về sự dũng cảm của ông khi đề xuất cái loại văn hóa khinh bỉ ấy, nhằm ngay vào đối tượng là đồng chí mình, ở chung quanh mình, mà hằng ngày gặp gỡ, ngồi cùng nhau trà nước, trước tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh và dưới lá cờ vẻ vang của Đảng? Như thế thì ông còn làm việc được với ai!

Có người lo cho ông Huynh sao mà ông dám bạo miệng dùng cái từ ngữ quá nặng nề ấy cho đồng chí mình. Có người thì không nghĩ thế, bởi cho rằng ông nói thế nhưng ý không phải thế. Ông ấy chỉ nói cho dân nghe thôi. Còn họ thì hiểu ngầm với nhau, không thực sự khinh bỉ nhau, mà là đô vật với nhau. Vả lại, nói khinh bỉ là khinh bỉ đối tượng mà họ đang nhắm đến để đánh đổ, chứ không phải khinh bỉ tất cả những kẻ tham nhũng. Người bình dân hiểu nôm na là phe nhóm đánh nhau để giành quyền được cái… khinh bỉ ấy, là cái cũng quý, không dễ có. Lại có người bảo: “ngu gì mà không tham nhũng?”. Giá như, cái giáo trình văn hóa khinh bỉ ấy được chính thức đưa vào trường “Lý luận cao cấp” của Đảng thì sao nhỉ? Sao lại không hay!

Có một cách hiểu dễ hơn: văn hóa khinh bỉ là biện pháp mà ông Huynh muốn hiến tặng, là chỉ dành riêng cho người dân sử dụng, để muôn dân được hưởng phép thắng lợi tinh thần.

Văn hóa khinh bỉ hay chính là cái phông văn hóa mà ông đang tựa lưng, có tác dụng như một khẩu súng chĩa mũi ngược về phía mình. Ông đã tự hứng lấy cái kết quả về tình trạng văn hóa đang hoành hành trong bộ máy mà ông là một nhân vật cao cấp, đồng thời là chủ nhân của sáng tạo cái văn hóa mới nói trên. Văn hóa khinh bỉ mà ông nói đã trở thành sự khinh bỉ về một thứ văn hóa đã nuôi nấng những ai đó, từ bé cho đến lúc lớn lên và thành đạt như những vị quan hôm nay. Hơn nữa, ông không phải là người bình thường, mà là một người đã từng hít thở, lớn lên, thành đạt trong ngành văn hóa – tư tưởng ấy, nên bản thân ông đã và đang là biểu tượng của nền văn hóa xuống cấp thê thảm mà ông lên án. Mà không chỉ là tham nhũng vật chất, nó còn tiến lên với cụm từ mới: tham nhũng quyền lực. Nó siêu hơn về kỹ năng và nghệ thuật, có chăng nó cũng thuộc họ hàng đối tượng của loại văn hóa khinh bỉ?

Từ “xây dựng” mà ông nói làm người ta có thể mường tượng, đó là một thứ văn hóa vật thể, có thể dùng kéo, dao, búa… để cắt, chặt, di dời, hoặc may vá lại theo ý muốn, nó có thể xây dựng bằng cát đá xi măng thông qua chỉ thị, nghị quyết, thông tư… Trong thứ văn hóa ấy, việc đập phá – như triệt hạ chùa Liên Trì chẳng hạn – thành đống gạch vụn, rồi lại xây dựng lại ở một nơi khác, là rất dễ dàng. Cái văn hóa ấy có thể trồng được, từ trồng cây đến trồng người. Không cần một trăm năm, chỉ cần năm hay mười năm có thể trồng một thế hệ, dễ như trồng rau, nhanh hơn trồng cây thân gỗ. Thậm chí chỉ hai năm, như ở trường đoàn, trường đảng, là có thể chuyển hóa một thế hệ thanh niên này thành một thế hệ thanh niên khác, có chân lý chắc nịch nắm gọn trong tay. Với cái búa chân lý ấy, anh ta hay chị ta có thể đi phá tan hoang mọi thứ. Mới mẻ gì cái sự phá hoại các đền cổ do IS thực hiện; đó chỉ là sự bắt chước muộn màng và kém xa, sau hằng nửa thế kỷ.

Cái giá trị phi vật thể nó nằm bí mật ở các thứ Ban Tuyên huấn, Tuyên giáo hoặc là ở Hội đồng Lý luận Trung ương – loại tổ chức “đậm đà bản sắc” Việt Nam. Nó không nằm ở trong dân gian, là hiểu lầm vì lộn chỗ. Ông quan lớn phát động xây dựng một nền văn hóa khinh bỉ khá cụ thể, là khinh bỉ những kẻ tham nhũng. Mà chuyện khinh bỉ tham nhũng cũng đã có từ lâu, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với cương lĩnh bài phong kiến, chống thực dân, đánh đế quốc. Chống kịch liệt, chống tàn bạo với biết bao nhiêu máu đã tuôn ra. Hẳn ông quan to đã nói là có cơ sở từ một thực tế. Từ khinh bỉ chuyển sang căm thù, đã tạo nên một thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất được mô tả là long trời lở đất. Sau năm cái đại hội và thêm cái thứ sáu, mà ông nguyên Chủ tịch nước phải cay đắng xấu hổ khi nhìn vào bản đồ tham nhũng thế giới, thấy Việt Nam đứng vào xếp vào hạng cao! Thế là cái thực tế ấy nó không giảm mà ngày càng tăng, nên bây giờ càng phải tiếp tục xốc tới với cái vũ khí khinh bỉ chăng? Và, khinh bỉ là biện pháp cuối cùng (?), và có thể tự an tâm, vì “không có cách nào khác”. Đó là một sự thảm hại đầy đủ! Gom các câu nói của các vị lãnh đạo lại, sẽ cho thấy một cấu trúc rất nhịp nhàng: “khi còn quyền lực, còn Nhà nước thì ở đâu và thời nào cũng sẽ còn tham nhũng” (Nguyễn Phú Trọng), như một nguyên lý; “không có cách nào khác […] phải lấy lại niềm tin trước sự rộng lượng của nhân dân bằng cách hành động, bằng tính tiên phong đã được chứng minh trong thực tiễn đấu tranh“ (Trương Tấn Sang) như một quyết tâm; và cần xây dựng “văn hóa khinh bỉ tham nhũng” (Đinh Thế Huynh), như một biện pháp. Than ôi! Càng hành động – có kêu gọi thêm tiền nhân giúp sức – thì tham nhũng càng phát triển!

Nó giống như cuộc tự bao vây lẫn phòng thủ của tham nhũng đã khá là toàn diện.

Cái tham nhũng ngày nay được hiểu một cách rộng rãi, bởi tính càng tinh vi của nó. Không những là của cải, nhà cửa, đất đai, tiền bạc, mà còn quan trọng hơn, chính là tham nhũng quyền lực, nó là suối nguồn tươi mát của mọi thứ kia. Nó đáng khinh bỉ hơn, nhưng nó mạnh mẽ hơn, đến nỗi nó khinh bỉ cái khinh bỉ mà ông ấy nói, xem nhỏ như con rệp, với hàng tỉ thí dụ. Cô con gái 24 tuổi của một quan lớn, vừa xong cái đại học ngành báo chí gì đó, đùng một cái, nhảy cao hơn cóc, lên cái ghế Chủ tịch Hội đồng Quản trị một công ty lớn để điều khiển hằng mấy nghìn con người. Hai tháng sau thì bị lôi xuống, cũng bởi quyền lực, chứ chẳng phải bởi sức mạnh của sự khinh bỉ. Khinh bỉ, vốn là trạng thái cảm xúc ở tầng mức tâm lý – tinh thần, nó thuộc chủ quan của mỗi con người, không có chuẩn mực và không có giá trị gì về pháp lý. Cái ông quan to nhất của môn duy vật biện chứng giả hiệu trong thực tế nghèo nàn túng quẫn của trí tuệ một chiều, vội vàng nhấc cái vung này để đậy lên cái nồi kia. Đó là một sự thảm hại sâu thẳm của cái văn hóa ấy, nên cảm thông hơn là khinh bỉ. Thông cảm là ở chỗ do cái vai đóng thì phải diễn thôi, thông cảm để tiến tới sự rạch ròi về một cách nói vô nghĩa của một cựu quan to: “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người!“ (Lê Khả Phiêu).Sao lại thế? Chẳng có cơ chế nào mà không có con người, chẳng có con người nào mà sống ngoài cơ chế, nhưng có cơ chế đã làm con người tự đánh mất mình, đưa đến trạng thái vong thân, tha hóa.

Cái cơ chế ấy đã đẻ ra mọi thứ đáng khinh bỉ.

Có nên xây dựng một nền văn hóa khinh bỉ không?

Trên nền văn hóa phổ quát ngày nay không ai đi xây dựng sự khinh bỉ hay lòng căm thù để dùng làm động lực cho bất cứ mục tiêu đấu tranh nào, dù nhân danh cái tốt.

Văn hóa ngày nay nêu cao sự tôn trọng cho dù có sự khác biệt, xây dựng lòng vị tha thay cho khinh bỉ và căm thù, thuyết phục/đối thoại thay cho trấn áp bạo lực, đưa luật pháp minh bạch vào đúng vai trò của nó thay cho những giáo điều tuyên huấn tầm phào. Người dân đòi hỏi dân chủ là ở đó, không cần sự khinh bỉ lẫn dùi cui. Khinh bỉ chuyển thành căm thù chỉ một bước nhỏ. Căm thù đã nhiều lần tạo nên những vết nhơ có tính lịch sử mà không thể nào xóa bỏ, nó đang tiếp tục các biện pháp dao búa, súng nổ, chất độc, và các loại mưu kế khác. Khinh bỉ không thể là điều được khuyến khích hay cỗ vũ.

Nói theo cách của các tôn giáo, là chẳng nên khinh bỉ ai. Từ thằng bé bị trừng trị vì đói mà ăn cắp hai ổ bánh mì, từ người phụ nữ thiếu nợ mà phải thuê người chặt tay chân mình để mong nhận được đền bù bảo hiểm, từ một bà mẹ uống thuốc tự tử hầu mong con mình được hưởng trợ cấp cứu đói, đến chuyện các quan hạ sát nhau công khai bằng súng, đến người tù bị xử kín lặng lẽ trong nhà lao, cho đến kẻ tham quyền nhân danhkhông tham vọng quyền lực diệt kẻ có tham vọng quyền lực và trở thành kẻ có đại quyền lực… Không hơn một trò đùa dai, nhưng rất man rợ! Chuyện một ông quan đầu tỉnh đưa một loạt tám người trong gia đình vào hàm quan các cấp, đã vượt xa thời phong kiến. Chuyện ông quan đầu tỉnh khác bị đồn thổi chăm lo cho bồ nhí cực kỳ chu đáo từ vật chất cho đến chức quyền, vượt quá xa xã hội có chủ nghĩa tư bản “giãy chết”. Các ông ấy không tự mình mà lên làm quan đầu tỉnh được. Chính nền văn hóa ấy đã tạo nên ngổn ngang những điều khốn khổ, tệ hại; cũng chính nó đưa các ông – trong đó có ông Huynh – lên đỉnh cao quyền lực; có tay quan ăn cắp 3.300 tỷ, 10.000 tỷ, có kẻ ăn cắp quyền lực của 90 triệu dân, có cả em thiếu niên ăn cắp bánh mì.

Thế mà nó vẫn tự ca tụng là “một thời kỳ rực rỡ nhất lịch sử”!

Cái toàn cảnh đó do đâu?

Trong một nền văn hóa mà sự khủng khiếp vượt lên trên sự khinh bỉ hay trọng vọng, như nhận xét của GS Trần Đình Sử:

“Với việc cha dành [và giành] suất lãnh đạo cho con, chồng bổ nhiệm vợ, vợ tìm chức cho người tình, mua quan bán chức công khai và dấm dúi, ăn hối lộ công nhiên, tìm mọi cách vơ vét tiền của dân dưới vô vàn danh nghĩa, chế độ ta đạt đến sự thối nát nhất trong các chế độ đã có và hiện có. Thật khủng khiếp”.

Ông giáo sư đã dùng chữ “chế độ ta” tiếp theo là “thật khủng khiếp”, tôi nghe như máu ứa trong lòng ông, và rõ là cái đau của ông không phải cái đau của người ngoài cuộc.

Phải chăng việc xây dựng nền văn hóa khinh bỉ có ý nghĩa kích hoạt nhằm chuẩn bị một động lực căm thùcho các loại vệ binh dưới cờ? Có thể ông Huynh không nhằm đi xa vào ý ấy, mà ông chỉ muốn dừng lại ở phạm vi ông gọi là văn hóa, chỉ như một thứ biện pháp để xoa dịu nhất thời, để chữa cháy cho một tình trạng quá bề bộn, lủng củng không lối ra.

Mà cách chữa cháy ấy cũng thật là dang dở… như bản “anh hùng ca” nọ, mà không ai rõ là ca cái gì! Hay cũng chỉ là “phép thắng lợi tinh thần” trong chốc lát của A.Q. chính truyện?

Và, vũ khí văn hóa khinh bỉ, có thể đã trở thành sự khinh bỉ các loại văn hóa vũ khí mà ông đã từng cho ra đời từ Ban Tuyên giáo của ông, như đội ngũ dư luận viên chẳng hạn.

Xét về cả hai mặt, việc phát động văn hóa khinh bỉ tham nhũng, là thủ thuật ứng phó nhất thời làm trợ thủ cho chiến dịch chống tham nhũng, hay là một kế hoạch đích thực của cánh ông, thì đều vô nghĩa và không đi đến đâu. Hãy xem đó là lời bông đùa vô tội vạ trong một lúc cao hứng.

Tôi đã tào lao cả đêm nay để viết những dòng này, biết chắc nó chẳng hề “tạo được áp lực xã hội mà những kẻ tham nhũng không chịu nổi”, như ông Huynh đã trót đùa, lại không chừng đang có nhóm an ninh trong đối tượng ấy đến canh cửa, cho dù tôi có thực hành văn hóa khinh bỉ như đã chỉ dẫn hay không.

Cái gay là văn hóa khinh bỉ ấy dường như đã tự phát triển tràn lan, mà không cần ông Huynh phải nhọc công “xây dựng”.

Theo Bauxite Việt Nam


Vừa qua Câu lạc bộ đọc sách báo của chúng tôi mời được một diễn giả nói chuyện về tình hình thời sự. Ông MĐ là Tổng biên tập một tờ báo lớn, đại biểu HĐND thành phố, ứng cử và được bầu tại Phường chúng tôi. Việc ông dành thời gian gần 2 giờ để nói chuyện, đối với CLB là một vinh dự ít có. Ông nói về một số vấn đề thời sự trong nước và thế giới, trong đó điều làm tôi quan tâm nhất là quan hệ của VN với TQ. Theo ông MĐ, tuy rằng có một vài sự kiện ở biển Đông, nhưng quan hệ VN và TQ đang rất tốt đẹp, đặc biệt sau chuyến thăm TQ của TT Phúc. Ông cho rằng đường lối hòa bình mềm dẻo và tôn trọng Luật pháp quốc tế của Đàng ta là sáng suốt, phù hợp với tình hình quốc tế và truyền thống dân tộc. Ông viện dẫn các sự kiện lịch sử các đời vua của VN vẫn thần phục và triều cống Hoàng đế Tàu, mà sự kiện đáng chú ý là Quang Trung, sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh phải sang Bắc kinh xin thần phục vua Khang Hy (!) nhà Thanh, cho đó là tấm gương cần noi theo.

Đã lâu tôi không được nghe các buổi nói chuyện của các cán bộ tuyên giáo. Trước đây, mỗi lần được nghe như thế tôi chỉ tiếp thu một chiều, làm tôi phấn khởi, được biết thêm nhiều chuyện, được sáng mắt sáng lòng. Nay thì khác, tôi nghe để biết quan điểm của diễn giả và xem “sự ngụy biện” đến đâu.

Kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan hô, ông MĐ tỏ ra thỏa mãn, nán lại gặp gỡ và trao đổi thêm với một vài người. Tôi cũng ở lại một chốc, được ông chào và hỏi: “Bác thấy tôi trình bày thế nào”. Tôi trả lời: “Anh nói hay, cung cấp được một số thông tin có giá trị, đa số bà con tham dự xem ra là thỏa mãn, riêng tôi thấy có vài chỗ anh chỉ mới đề cập đến một phần của sự thật bên ngoài, bỏ mất phần khác quan trọng hơn, riêng các lập luận, có hình thức chặt chẽ nhưng để ý ra thì thấy khoảng một phần ba là sai vì phạm vào lỗi ngụy biện, đặc biệt phần nói về quan hệ Việt Trung, về vua Quang Trung”. Đó là một nhận xét có tính phản biện mà diễn giả không mong đợi. Tôi chờ một câu trả lời đại khái như: “Xin cám ơn bác, xin bác chỉ cho biết những chỗ mà bác cho là phần quan trọng hơn, là sai vì ngụy biện”. Nhưng không! Ông ta phản ứng bằng cách chống chế. Tôi biết không thể tiếp tục trao đổi nên xin rút lui để ông đàm đạo với những người khác đang chờ đợi những ý kiến quý báu của ông.

Về quan hệ với TQ, xin vạch ra một số ngụy biện mà Tuyên huấn của Đảng vẫn dùng để lừa nhân dân, mà tiếc thay, một số người vẫn vui vẻ nghe theo (như tôi trước đây).

1-Nước ta bị thế kẹt là ở sát TQ, bị nó khống chế nhiều bề:

Giáp với TQ không phải chỉ có VN mà còn 13 nước khác như Mông Cổ, Bhutan, Nêpan, Takjikistan, Kazakstan, Nga, Myanmar, Ấn độ v.v. Trừ Nga và Ấn độ, các nước khác đều bé, thế mà họ có chịu khuất phục TQ như VN đâu. Đặc biệt như Bhutan, có biên giới khá dài với TQ mà không có quan hệ ngoại giao. Sự chịu khuất phục do nguyên nhân địa lý chỉ là một phần rất rất nhỏ. Nguyên nhân chính là do đường lối lãnh đạo. Nếu đổ cho nguyên nhân địa lý thì giải thích thế nào về các nước như Bhutan, Nêpan,Takjilistan...đều bé, TQ tuy có phá phách ít nhiều nhưng cơ bản không làm họ khuất phục. Ta giáp với TQ từ khi lập quốc đến giờ mà các đời vua phong kiến trước đây có chịu lép vế một bề như dưới thời CS hay không.

2- Nước ta và TQ cùng ý thức hệ cộng sản, cùng chung lý tưởng XHCN

Đây là lập luận ngụy biện xảo trá. Việc cùng ý thức hệ có phải là tiền định, là Trời bắt phải thế đâu. Đó là do con người lựa chọn. Từng đảng viên cộng sản khi vào Đảng thì có thề trung thành với Đảng nhưng dân tộc này có bao giờ thề lệ thuộc vào TQ đâu. Ừ, mà cùng ý thức hệ tốt đẹp thì cũng tạm được , nhưng ý thức hệ đó đã lạc hậu, đã thối rửa mất rồi thì đeo bám làm gì. Trước đây chúng ta theo Liên xô vì ý thức hệ, thế mà Liên xô sụp đổ rồi, trong lúc TQ cố dựa vào ý thức hệ để thôn tính VN thì vin vào nó mà làm gì ngoài sự lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin. Mà hỏi xem, ngoài một số rất ít còn dựa vào ý thức hệ để trục lợi thì đại đa số dân VN có còn tin gì vào nó nữa đâu. Hơn nữa ĐCS TQ chỉ giữ lại cái tên và tổ chức chứ ý thức hệ CS cũng đã bị vứt bỏ từ lâu, chúng nó chỉ dùng để lừa bịp những người khờ dại trong và ngoài nước. Cũng vì ý thức hệ mà lãnh đạo ĐCS VN đã ký kết mật ước Thành Đô. Nhiều dư luận yêu cầu công khai minh bạch cho toàn dân biết nội dung, thế mà đến nay lãnh đạo ĐCS vẫn giấu kín.

3- Truyền thống tổ tiên vẫn thần phục Tàu

Đây là lối ngụy biện dùng một phần sự thật để che dấu bản chất. Tổ tiên chúng ta bên ngoài tỏ ra thần phục Tàu chứ chưa bao giờ chịu khuất phục (trừ bọn Ích Tăc, Chiêu Thống…). Như Nguyễn Trải đã viết : “ Như Đại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải mấy triều Đinh, Lê, Lý , Trần dựng nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương…” . Xét trong lịch sử, trừ thời nhà Hồ bị nhà Minh cướp nước (Gần đây vì họ Hồ chính sách nặng phiền, khiến trong nước lòng người oán giận. Quân Minh cuồng bạo thừa dịp hại dân. Đảng nịnh mưu gian rắp tâm bán nước… Tát cạn nước Đông hải khôn rửa sạch tanh hôi. Chẻ hết trúc Nam sơn không đủ ghi tội ác…), thì chưa thấy có triều đại nào chịu khuất phục TQ về mọi mặt một cách nhục nhã như bây giờ. Ngay như Quang Trung, ông cho người đóng thế mình sang bái phục Càn Long (không phải Khang Hy) chỉ là cái mẹo sau khi đã đánh tan 20 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị. Đánh thắng rồi mới cầu hòa chứ không phải cúi đầu xin chỉ thị về mọi việc lúc chưa xẩy ra.

Việc nhất nhất thần phục Tàu Cộng đã được cài sẵn vào gène, vào máu của CSVN từ khi mới thành lập năm 1930 trên đất Tàu. Chẳng thế mà Trần Huy Liệu (người thay mặt Hồ Chí Minh vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại), vào khoảng năm 1949 có nói một câu nhận xét không tốt về Tàu (coi chừng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc) thì bị thất sủng ngay. Năm 1954, Phạm Văn Đồng sau khi ký Hiệp định Genève đã khóc vì bị Chu Ân Lai ép buộc chia cắt đất nước đến vĩ tuyến 17. Năm 1958, được tin TQ muốn độc chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Phạm Văn Đồng ký Công hàm công nhận ngay (ngoài ông Đồng ra hình như không có ai ủng hộ TQ nữa). Năm 1974 Hà nội giữ hoàn toàn im lăng để cho Trung cộng đánh chiếm Hoàng sa do VNCH quản lý. Năm 1988 Lê Đức Anh (bộ trưởng quốc phòng) ra lệnh cho các chiến sĩ đảo Gạc Ma không được chống cự lính Trung cộng, để toàn bộ 64 chiến sĩ bị sát hại, xác bị quăng xuống biển. Năm 1991 Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười sang Thành Đô (TQ không cho đến Bắc Kinh) cầu xin sự che chở và ký mật ước, cố xin gặp Đặng Tiểu Bình nhưng hắn không cho gặp. Năm 2000 Lê Khả Phiêu ký cho Tàu một số đất ở Thác Bản Giốc và Hữu nghị quan. Những chuyện như vậy liệu có bao giờ xấy ra trong lịch sử của tổ tiên. Thế mà ĐCS cứ đưa tổ tiên ra làm bình phong để che đậy.

4- Luận điệu gìn giữ hòa bình, tôn trọng luật pháp Quốc tế

Cứ mỗi lần TQ có hành động ngang ngược ở biển Đông thì phát ngôn của Bộ Ngoại giao VN lại tuyên bố: ”Phản đối, đòi tôn trọng chủ quyền, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng hòa bình, thương lượng, tôn trọng luật pháp quốc tế, không liên kết với nước khác để chống nước thứ ba…”. Nghe quá hóa nhàm. Có những việc lớn, quan trọng mà sao chỉ có đại diện Bộ Ngoại giao, hoặc quá lắm là một cá nhân cấp cao nào đó phát biểu một cách dè dặt, Chính phủ, Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước lặng im. Và dân quá bức xúc biểu tình phản đối thì bị đàn áp. Ừ thì tôn trọng hòa bình, ta không chủ động gây chiến, nhưng ai cấm những phát biểu mạnh mẽ phản đối của Chính phủ, sao lại cấm dân biểu tình, sao không dám kiện ra Tòa án quốc tế như Philippin. Luận điệu “mềm dẻo, hòa bình, tránh xung đột” chẳng qua để che giấu một tâm trạng hèn yếu, không dám tin vào dân, chỉ muốn thần phục để vinh thân phì gia.

5- Về kinh tế ta phụ thuộc vào Tàu quá nhiều, nếu ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền mà bị Tàu nổi giận cắt đứt mọi giao dịch thương mại thì ta lâm vào khủng hoảng lớn

Tôi gọi đây là luận điểm chứ không phải luận điệu vì xét ra có phần đúng. Nhưng có phải vì giao lưu hàng hóa mà để cho Tàu vào chiếm cứ các vị trí xung yếu của đất nước, để người Tàu tràn ngập các vùng quan trọng, để họ phá nát môi trường. Những nước như Mỹ, Đức, Nhật, Úc … họ có làm như thế đối với các nước khác đâu. Việc để kinh tế, thương mại, xây dựng của VN quá lệ thuộc vào Tàu , để cho Tàu thực hiện các dự án lớn làm hủy hoại môi trường là tội của những người lãnh đạo tham và ngu. Bây giờ đã lỡ ra rồi thì không phải cứ cố trượt dài trên con đường sai lầm mà phải tìm cách khắc phục. Tuy vậy việc ngừng giao lưu kinh tế với Tàu khi chúng ta có những đấu tranh mạnh mẽ để bào vệ chủ quyền cũng chỉ mới là suy đoán. Việc giao lưu là có lợi cho cả hai bên. Việc giao lưu với Tàu nếu bị giảm sút , trước mắt kinh tế Việt sẽ gặp khó khăn, đời sống của đân bị ảnh hưởng. Nhưng thử hỏi dân xem họ có vui lòng chấp nhận khó khăn trong thời gian ngắn để loại bỏ mọi xấu xa do Tàu mang đến. Tôi nghĩ rằng được giải thích đa số dân sẽ vui lòng. Hơn nữa dân ta có câu: “Trong cái khó ló cái khôn”. Trước đây vì nhầm lẫn mà ta ưu tiên thị trường TQ, nhưng nếu vì bảo vệ chủ quyền mà nó bị co lại thì các nhà doanh nghiệp Việt có đủ trí khôn để mở ra các nước khác, chứ làm sao chịu bó tay.

6- Nhận định

Tôi cho rằng những ngụy biện trên đây chỉ nhằm để duy trì chế độ độc tài đảng trị theo đường lối CS, đem nước ta phụ thuộc vào Tàu cộng. Muốn thoát khỏi sự lệ thuộc này trước hết phải thoát ra khỏi ý thức hệ CS, phải cải cách thể chế theo con đường dân chủ chân chính. Một ngày mà ĐCS VN còn kiên trì đường lối hiện hành thì dân Việt còn chịu cảnh lầm than và đất nước dần dần bị thôn tính.

Để kết thúc xin kể câu chuyện : Ngày xưa bên Tàu, nước Triệu (Thời U Mục Vương), nhờ có Lý Mục và Tư Mã Thượng là những người tài giỏi, yêu nước mà ngăn chặn được sự xâm lược của nước Tần. Thế nhưng vua Triệu tin dùng tên quan đứng đầu triều đình là Quách Khai, một kẻ tham lam. Gián điệp nước Tần đem biếu Quách khai một số lớn vàng bạc với yêu cầu vu cáo Lý Mục và Tư Mã thượng là bọn phản bội, chống lại nhà vua, để họ bị loại bỏ. Quách Khai nhận vàng bạc, thực hiện âm mưu, xui dục vua giết chết Lý Mục, đuổi được Tư Mã Thưọng. Kết quả quân Tần xâm chiếm nước Triệu một cách dễ dàng. Sau vụ này vua Tần nói : Ta chỉ bỏ ra ít vàng bạc mua được Quách Khai, dùng Khai để chiếm được Triệu, quá rẻ. Quách Khai hý hửng cho rằng đã lập công với Tần nhưng bị Tần đuổi đi, không dùng kẻ phản phúc. Quách Khai về quê, chở theo mấy xe vàng bạc. Giữa đường bị những người nghĩa khí giết hết cả nhà, lấy hết của cải.

Bình luận - Việc này đáng cho nhiều người Việt suy ngẫm. Nhưng những kẻ rắp tâm bán nước nghĩ rằng họ khôn hơn Quách Khai vì đã tuồn nhiều của cải và cho con cháu ra nước ngoài. Không đâu, chúng mày khôn, sẽ có người khôn hơn và trên hết, chúng mày đã gây ra nghiệp chướng, thế nào cũng chịu nghiệp báo. Hãy luôn nhớ rằng của cải do sức lao động và tài năng làm ra mới bền chặt, còn của phi nghĩa do gian lận, tham nhũng, tước đoạt thì chỉ làm giàu tạm thời, không đời chúng mày thì đời con, đời cháu cũng tiêu thành mây khói và chưa biết còn những thảm họa nào nữa.

Theo Dân Luận
Loading...

MEDIA

[Video][video][#e74c3c]

LIKE FANPAGE

Powered by Blogger.