Loading...

Văn Nghệ: Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), tự Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, Hà Tây). Xuất thân từ gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội, ở trường Yên Phụ, trường Bưởi. Năm 1934, tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, ông vào làm việc ở Nam bộ đến suốt đời. Sau 1945, Nguyễn Hiến Lê thôi làm cơ quan, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, chuyên về biên dịch và sáng tác. Năm 1980, ông về lại Long Xuyên, viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (1980) và Đời viết văn của tôi (1983). Sự nghiệp cầm bút của Nguyễn Hiến Lê tương đối đồ sộ với trên 120 tác phẩm gồm nhiều thể loại: biên khảo và dịch thuật (trên 100) về văn học , ngôn ngữ, triết học, phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân,… ; du ký, học làm người và sáng tác (20). Bài đăng trên tạp chí: Bách khoa (242); Mai, Tin văn, Văn, Giáo dục phổ thông, Giữ thơm quê mẹ (50). Đề tựa cho sách (23 cuốn). Nguyễn Hiến Lê đã từ chối: hai lần nhận giải Tuyên dương Văn học-Nghệ thuật (1 lần: 25 cây vàng tương đơng 100 triệu), giám khảo cuộc thi văn chương toàn quốc, dạy ở Đại học Văn khoa và tham gia vào Hội đồng Giáo dục của chính quyền Cộng hòa. Sách của ông có quyển từng được in với con số kỷ lục từ 10.000 bản trở lên. Ông lâm bệnh, mất (1984) tại Thành phố Hồ Chí Minh, linh cữu được hỏa táng sau khi tang lễ được gợi ý làm đơn giản, và phần mộ ông hiện nay ở Đồng Tháp. Nguyễn Hiến Lê được coi là một cây bút uy tín, viết miệt mài, thể hiện nhân cách lớn của một nhà văn, nhà giáo được nhân dân cả nước ngưỡng mộ và kính trọng. Tên của Nguyễn Hiến Lê được lấy đặt cho một con đường dài 340m, rộng 12m, tại phường 13, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng tập những sáng tác của Nguyễn Hiến Lê. Ảnh Internet
Thuở nhỏ còn ở quê, khi học hết cấp Sơ đẳng, ra tỉnh học tiếp Lớp Nhì (Cours Moyen, nay là lớp 4) bậc Tiểu học tại Cần Thơ, tôi là một đứa học trò lù khù, học lực chỉ đứng trung bình trong lớp. Tính ham học, lại nghĩ thương ba mẹ quanh năm phải làm lụng vất vả, tảo tần khuya sớm, tôi cứ mãi nghĩ phải làm thế nào để học giỏi lên cho vui lòng các bậc sinh thành. Thật may mắn, cuối năm đó, trong một lần đến nhà sách Tinh Hoa đường Phan Đình Phùng, tôi tình cờ mua được quyển “Kim chỉ nam của học sinh” của Nguyễn Hiến Lê, một tác giả với tôi hãy còn xa lạ. Vốn mê sách, về nhà tối hôm ấy, tôi đọc ngấu nghiến, say sưa với nội dung và phương pháp mà tác giả đã chỉ cho học trò cách học làm sao cho giỏi. Tôi cảm thấy vô cùng sung sướng trong khoảnh khắc bất ngờ gặp được quyền sách vàng đã làm thay đổi hiệu quả việc học tập trong đời tôi. Từ đó đến nay, tôi vẫn coi Nguyễn Hiến Lê như một người thầy học đáng kính, uyên thâm, dù chưa lần nào ông đứng lớp dạy tôi.

Nguyễn Hiến Lê lấy bút danh Lộc Đình vì ông sinh ra từ ngõ Phất Lộc, nơi có một cái đình xưa, trong một gia đình lễ giáo Nho phong ở Hà Tây, Bắc bộ. Cha mẹ và bác ruột của ông đều giữ được truyền thống đạo lý và giáo dục khuôn mẫu của tổ tiên. Thân phụ Nguyễn Hiến Lê có hiệu Đặc Như, tính nghệ sĩ nhưng dạy con rất nghiêm khắc. Trước ngày Nguyễn Hiến Lê chào đời, ông Đặc Như nằm mộng, thấy cụ già râu tóc bạc phơ như một tiên ông, chống gậy đến trao cho quả lê, vì thế đặt tên con Hiến Lê. Mẹ Nguyễn Hiến Lê tên Sâm, sớm mồ côi cha, mẹ bà làm lược bán để nuôi con. Khi lên mười, cha ông mất sớm (lúc 34 tuổi), trong cảnh nhà khó khăn, mẹ Nguyễn Hiến Lê phải đầu tắt mặt tối buôn bán trái cây ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội, chịu cực khổ nuôi bốn con nhỏ dại và mẹ già. Trên tạp chí Mai số 29 ra ngày 10.09.1961, Nguyễn Hiến Lê không giấu diếm cái nghèo khổ của mẹ con ông:

“ Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, thường bị họ hàng khinh rẻ, ức hiếp, lắm lúc chúng tôi tủi nhục đến rớt nước mắt”. Không có người kèm cặp, Nguyễn Hiến Lê lêu lổng, phải ngồi lại hơn hai năm ở lớp Dự bị (Cours Préparatoire, nay là lớp 2 bậc Tiểu học) mới lên nổi lớp Sơ đẳng (Cours Élémentaire, nay là lớp 3). Từ lớp Nhì (Cours Moyen, nay là lớp 4), ông bắt đầu chăm học, rồi đứng đầu ở lớp Nhất (Cours Supérieur, nay là lớp 5). Vầng dương ấm áp đã rạng hồng lên, xóa tan màn đêm u tối những ngày đói lạnh ấu thơ của cuộc đời cậu học trò nghèo. Trên tạp chí Mai số 39, ra ngày 10.02.1962, Nguyễn Hiến Lê đã tâm sự: “Tôi đã qua cái cảnh, buổi sáng rét căm căm, gió bấc thổi lồng lộng, bận có hai cái áo mỏng, đi mua một củ khoai lang một trinh hoặc một khúc khoai mì một xu, rồi đi chân đất dưới mưa phùn để tới trường cách nhà trên hai cây số, ngồi học ba bốn giờ rồi lại đi bộ về nhà. Có lúc đói và lạnh quá không nghe được lời giảng của thầy nữa. Giá hồi đó tôi có thêm một xu mỗi ngày để ăn và đôi ba tháng có thêm được vài hào để mua sách…”. Năm 1925, thi vô trường Bưởi (Collège du Protectorat), nhưng ông phải thi lại lần thứ hai vào năm sau mới đậu. Tới lớp Đệ Tứ, đứng nhất lớp ở trường, Nguyễn Hiến Lê được học với các bậc thầy tên tuổi đáng kính như: Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam Văn học Sử yếu, Việt Nam Thi văn Hợp tuyển; Thẩm Quỳnh, dịch giả Kinh Thư; Nguyễn Gia Tường, bào huynh của vua sơn mài Nguyễn Gia Trí, …Sau đó, Nguyễn Hiến Lê thi đậu văn bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d’Études primaires supérieures) rồi thi vào trường Cao đẳng Công chánh đậu thủ khoa, được vào học nội trú và hàng tháng lãnh sáu đồng rưởi học bổng. Thi tốt nghiệp năm 1934, ông đậu hạng sáu và gần cuối năm được bổ vào làm việc trong Nam. Năm 1937, cưới bà vợ cả Trịnh Thị Tuệ, người miền Bắc. Năm 1944, ông có trở ra Bắc thi vô ngạch kỹ sư công chánh nhưng không đậu. Trở lại làm việc ở sở Thuỷ Lợi Long Xuyên, Nguyễn Hiến Lê đi coi đo mực nước sông ở các tỉnh miền Tây Nam bộ. Công việc ông còn rất nhiều thời gian rảnh rổi. Không biết làm gì cho hết ngày, ông thường tìm sách để đọc. Không đọc sách thì ghi nhật ký, viết hồi ký cho đỡ nhớ quê nhà ở tận miền Bắc xa xôi. Nguyễn Hiến Lê kể lại: “Cầm bút lúc nào là tâm hồn tôi rung động nhè nhẹ lúc ấy, như được nghe một bản nhạc êm đềm, bản nhạc của cố hương và dĩ vãng.” Công việc mỗi ngày thường khi phải ngồi thuyền một mình, bềnh bồng trên sông nước các tỉnh miền Tây. Đó cũng là cơ hội có thời gian tĩnh lặng để ông cầm bút: “Viết hồi ký để ôn lại cái đã qua thì viết nhật ký để ghi lại cái vui hiện tại…Tôi cứ nghĩ đâu chép đó, viết bừa đi, chẳng cần bố cục, cũng chẳng sửa, có khi quên giờ giấc, và đặt cây bút xuống, nhìn lên bờ thì làng xóm đã lờ mờ sau làn sương mỏng.”

Ham đọc sách và say mê viết mà vẫn còn dư thì giờ, ông quay ra tự học thêm chữ Hán. Lúc còn nhỏ ở nhà, ông được cha dạy chữ Hán cho một ít, và khi còn học trung học trong ba lần nghỉ hè, ông được về quê nội ở làng Phương Khê, học thêm chữ Hán với Bác Hai. Khi tốt nghiệp trường Công chánh (6/1934), trong khi chờ bổ nhiệm, Nguyễn Hiến Lê tiếp tục học chữ Hán một mình mà không về quê nữa vì Bác hai đã qua đời. Mỗi ngày, ông đến thư viện Trung ương ở đường Trường Thi - Hà Nội để mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh và cuốn Grammaire Chinoise (Ngữ pháp tiếng Hoa) của Cordier. Ông miệt mài tìm các từ thông dụng chưa hiểu rõ ý nghĩa trong từ điển của Đào Duy Anh, bắt đầu từ chữ A, chép vào một tập riêng, rồi lại đọc kỹ những điều quan trọng trong cuốn Ngữ pháp của Cordier. Ông làm việc đều đặn như thế sáu ngày một tuần ở thư viện, chỉ nghỉ một ngày ở nhà để ôn lại bài trong tuần. Sau ba tháng, học được chừng 3.000 từ, Nguyễn Hiến Lê mượn bộ Tam Quốc chí có lời bình của Kim Thánh Thán. Vì đã biết cốt chuyện rồi, ông đọc không quá khó, hiểu được sách nói gì và tỏ ra rất thích lời bình của Kim. Đọc vửa xong Tam Quốc chí thì Nguyễn Hiến Lê nhận được giấy bổ vào Nam làm việc.

Trong những ngày đầu mới vô Sài Gòn làm việc, ông nhận ra mỗi ngày còn rảnh được buổi tối và mỗi tuần rảnh được cả ngày Chủ nhật. Không biết nhậu, ghét đánh bài, chẳng thích đánh cờ, cũng không ưa ngồi lê đôi mách, tụ tập bạn bè tán gẫu nơi quán xá, ông chỉ còn cách tự học và đọc sách mà thôi. Mà đọc sách với cây bút chì, có ghi chú ngoài lề và tóm tắt chỗ quan trọng ở đầu hoặc cuối mỗi trang để về sau có thể tham khảo khi cần.

Sau năm 1945, Nguyễn Hiến Lê thôi làm công chức, về làng Tân Thạnh, ở khoảng giữa Hồng Ngự và Cao Lãnh, học Đông y và chữ Hán thêm với Bác Ba Phương Khê. Đến năm 1950, nể lời bạn đã ba lần khẩn khoản mời, Nguyễn Hiến Lê ra dạy học tại trường Trung học Công lập Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên (An Giang), sống với người vợ thứ hai là Nguyễn Thị Liệp, người Nam. Với trình độ quảng bác, ông được nhà trường tin tưởng giao cho dạy đủ các môn, từ Khoa học tới Sinh ngữ. Không biết có phải cái không khí trang nghiêm tĩnh lặng của “Cửa Không sân Trình” đã khiến ông ngộ ra con đường đến với một phạm trù văn hóa khác là nghệ thuật văn chương. Bắt đầu từ thời điểm này, Nguyễn Hiến Lê đã dồn hết tâm huyết mình cho nghiệp cầm bút dù tổ tiên ông họ tộc hai bên nội ngoại đều không ai sống bằng nghề viết văn, soạn sách. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là cuốn “Tổ chức công việc theo khoa học”. Dạy học được ba niên khóa, Nguyễn Hiến Lê xin thôi việc và được chấp thuận (09/1953). Thời gian sau về Sài Gòn, được một số trường uy tín mời dạy, ông cương quyết từ chối để dành trọn thì giờ cho việc tự học và viết sách. Không làm nhà giáo cầm phấn, đứng lớp trên bục giảng dạy học trò, Nguyễn Hiến Lê cầm bút, soạn sách không chỉ để dạy cho học trò trong trường học mà còn dành cho người đọc ham hiểu biết, học hỏi ở mọi lứa tuổi trong xã hội.

Từ buổi đầu sự nghiệp sáng tác của ông, không chỉ có quyển “Kim chỉ nam của học sinh” mà còn có thêm những tác phẩm giá trị khác mang tính giáo dục như: Tổ chức công việc theo khoa học, Luyện văn I (1953) II và III (1957), Hương sắc trong vườn văn, 2 quyển (1962), Bí quyết để thi đậu các cấp bằng Trung học (1956), Muốn giỏi toán hình học phẳng (1956), Muốn giỏi toán hình học không gian (1959), Muốn giỏi Toán Đại số (1958), Tự học-một nhu cầu thời đại, Tự học để thành công (1954), Săn sóc sự học của con em chúng ta (1954),…Riêng những tác phẩm: “Kim chỉ nam của học sinh” và “ Tổ chức công việc theo khoa học” của Nguyễn Hiến Lê, là hai cuốn sách gối đầu giường của tôi bắt đầu từ lớp Đệ Ngũ. Chính nhờ hai cuốn sách đó mà từ một học đứa học trò nhà quê học trung bình, khi ra tỉnh học, tôi trở thành một học sinh thật khá, đứng đầu một số môn học quan trọng trong lớp như: Toán, Lý, Hóa, Văn, Anh và Pháp)… Khi tôi áp dụng chặc chẽ, sát sao những nguyên tắc mà tác giả đề ra, sang Đệ Nhị cấp, từ lớp Đệ Tam (nay lớp 10) cho tới cuối cấp, tôi đã đứng Nhất lớp hơn 2/3 môn trong số 13 môn học. Và 1/3 số môn còn lại chỉ đứng Nhì hoặc Ba với nhiếu Giấy khen (Satisfécit), Bảng Danh dự (Tableau d’honneur) do Giám học ký tên. Tên được nêu lên Bảng Danh dự, treo tại vị trí trang trọng nhiều người biết ở nhà trường. Sự sung sướng từ kết quả học tập tốt ở trường cũng là niềm hạnh phúc của ba mẹ ở làng quê đang lao động vất vả hằng ngày. Ba tôi với vẻ vui sướng tự hào vì sự học của con, đã lấy Giấy khen, Bảng Danh dự mà tôi được nhà trường tặng thưởng, đem lồng vô khung kiếng treo khắp vách nhà. Cuối mỗi năm học, trường Phan Thanh Giản đều tổ chức một buổi lễ Phát thưởng rất long trọng tại rạp Chiếu bóng Huỳnh Lạc hoặc Tây Đô, luôn có mời Phụ Huynh học sinh có giải thưởng đến dự. Buổi lễ có sự tham dự của các quan khách gồm đại diện chính quyền, sở giáo dục, những nhân sĩ và phụ huynh học sinh. Tôi được lãnh phần thưởng giá trị như : Từ điển Việt Nam (Đào Văn Tập), các loại Từ điển: Pháp-Việt (Đào Đăng Vỹ) hay Việt-Pháp ((Đào Văn Tập), Anh-Việt (Nguyễn Văn Khôn) hoặc Việt-Anh (Lê Bá Kông), sách truyện văn học, tiểu thuyết của Tô Hoài…hay Tự lực Văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam) hoặc của các nhà văn Pháp (Alexandre Dumas, La Fontaine), Anh (Jack London, Ernest Hemingway) và tập vở, hộp viết, bút máy và các loại đồ chơi lành mạnh có ích cho sự phát triển trí óc của học trò. Phần thưởng xuất sắc hạng Ưu, phát cho học sinh đứng đầu lớp rất đáng kể. Năm nào tôi cũng phải gọi trước chiếc xe lôi đạp của chú Hai Tố trong xóm đến chở tiếp mang về nhà ở Hẻm Vú Sữa, đường Duy Tân (nay là đường Hoàng Văn Thụ), Cần Thơ. Nghĩ ra mình cũng có thể tự hào và hạnh phúc. Vì đúc kết ở cuối mỗi năm học, tôi nhận đều đặn bốn thành tựu: ngoài phần học bổng lãnh 3.600 $* (400 $ /mỗi tháng), còn có một phần thưởng bằng hiện vật rất giá trị, một vé đi nghỉ hè ở Vũng Tàu hoặc Đà Lạt và thi đậu (nếu là năm thi). Được những niềm vui ý nghĩa như một bữa tiệc tinh thần lành mạnh đó, sau tấm lòng kỳ vọng, tin tưởng của ba mẹ và các thầy cô ở nhà trường, và nhờ thêm những quyển sách của Nguyễn Hiến Lê. Trong những quyển cẩm nang giá trị đó, thầy Nguyễn Hiến Lê đã hướng dẫn cặn kẽ cho tôi đầy đủ và khoa học cách thức làm thế nào để học giỏi thực sự : từ cách dùng thì giờ, tổ chức chỗ học, cách chọn bạn học, tổ chức học nhóm đến cách sắp xếp và sử dụng học liệu cùng với việc hướng dẫn về chế độ ăn uống cả việc nghỉ ngơi, thức ngủ sao cho đảm bảo được sức khỏe của người học trò đang miệt mài đèn sách. Thầy Nguyễn Hiến Lê cũng đã dạy tôi những kỹ năng, bí quyết học tập sao cho hiệu quả : lập ngay một thời gian biểu hợp lý theo hoàn cảnh của mình, cách tập trung tư tưởng, luyện trí nhớ. Phương pháp học rất cụ thể, từ lý thuyết đến bài tập, để học giỏi từng môn, từ các môn chính đến môn phụ.

Về loại sách Giáo dục-Giáo khoa của Nguyễn Hiến Lê, tôi và các bạn học sinh lúc bấy giờ còn được đọc và học thêm ở các quyển: Để hiểu văn phạm (1952), Thế hệ ngày mai (1953), Săn sóc sự học của con em chúng ta (1954), Thời mới dạy con theo lối mới (1958), Thế giới bí mật của trẻ em (1972), Lời khuyên thanh niên (1967), Tôi tập viết tiếng Việt (1990), Khảo về ngữ pháp Việt Nam (viết với Trương Văn Chình- 1963), Tìm hiểu con chúng ta (1966), Thế giới bí mật của trẻ em (1972)… Người ta còn nhớ lại, vốn nặng lòng với giáo dục và thế hệ thanh niên học sinh, năm 1962, Nguyễn Hiến Lê viết một loạt năm bài về “Cải tổ nền giáo dục Việt Nam”. Năm 1961, trên tạp chí Bách Khoa, và năm 1966 trên Tin Văn, nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã kịch liệt đả kích Bộ Giáo dục và Viện Đại học Sài Gòn không cho dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở các trường Đại học. Còn có thể kể thêm hàng trăm bài viết của ông về giáo dục khác từ năm 1950 đến 1975 đã đăng trên các báo: Bách Khoa, Đại học, Giáo dục Phổ thông, Mai, Tân Văn, Tin Văn, Văn, Văn hóa Nguyệt san… Năm 1972, ông cũng đã viết ba bài về đề tài văn hóa: Nguy cơ xuất não- bàn biện pháp giữ nhân tài du học nước ngoài về (đăng trên tạp chí Bách Khoa). Cũng năm này, sau khi tốt nghiệp chương trình Cử nhân Văn khoa, từ Cần Thơ lên tìm đến tận nhà ông ở Sài Gòn để xin tham vấn, chuẩn bị cho đề tài Cao học Văn chương Việt Hán: “Thiên nhiên trong thi ca Mạc Thiên Tích” (1972-1975) do giáo sư Bửu Cầm bảo trợ, tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, tôi được Nguyễn Hiến Lê không ngại mất thì giờ, vui vẻ tiếp chuyện và chân tình góp ý, hết lòng giúp đỡ tôi trong việc biên soạn tiểu luận tốt nghiệp. Ngoài những sách thuộc loại “Giáo dục-Giáo khoa”, hướng dẫn cách học tập, Nguyễn Hiến Lê cũng đã dạy tôi cách ăn ở trong gia đình, và đạo xử thế ngoài xã hội qua các sách “Học làm người” của ông. Đây là loại sách tương tự như tủ sách: La Bibliothèque de l’Honnête homme (Tủ sách Học làm người) của Bỉ, Culture humaine (Văn hóa loài người) của Pháp, Self- emprovement (Tự tu bổ) của Anh - Mỹ nhằm giúp thanh niên, con người thuộc mọi lứa tuổi tự rèn luyện về kiến thức, nhân cách và đạo đức, bổ sung thêm cho cái học văn hóa ở nhà trường. Chính ông đã từng nói: “Nhà trường chỉ dạy cho ta cách học, còn mỗi người thì phải tự học suốt đời. Vì học là để hành và hành là để học”. Sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê được xuất bản rất nhiều (hơn 20 cuốn) về biên khảo lẫn dịch thuật. Nhưng hai quyển nổi tiếng nhất (nhiều nhà xuất bản đã in lại tổng cộng có trên 15 lần chỉ trong vòng 6 thập niên) vì có ích lợi thực tiễn cho con người, đó là quyển “Đắc nhân tâm” (dịch từ quyển How to win Fiends and Influence People của nhà văn Mỹ Dale Carnegie (1888-1955) ) và “Quẳng gánh lo đi và vui sống”(dịch từ quyển How to stop worrying and start living của Dale Carnegie). Trong quyển “Đắc nhân tâm”, tác giả đã dẫn dụ người đọc một cách rất sinh động bằng việc đưa ra những minh chứng cụ thể về nhân vật, từ đó luyện cho ta cái Nghệ thuật chinh phục lòng người. Sách đọc vô cùng hấp dẫn, tôi đọc quyển này đã hơn chục lần, thỉnh thỏang lại lấy nó ra coi lại mà không chán. Bạn đọc hãy lấy sổ tay ra ghi, học thuộc lòng và thực hành ngay. Kỳ diệu lắm ! Trong sách, tác giả đã hướng dẫn cho người đọc : A/. Sáu cách (6) gây thiện cảm với người khác: + Giữ nụ cười trên môi;+ Chú ý đến họ; + Hãy nói đến tên của người ta; + Phải lắng nghe người ta nói chuyện; + Coi ai thích gì thì nói với họ về cái đó; + Làm cho họ thấy sự quan trọng của họ. B/. Mười hai (12) cách làm cho người khác nghe theo mình: + Tránh đi cuộc tranh luận, là thắng nó; + Tôn trọng ý kiến của người, đừng bảo họ sai lầm; + Nếu ta sai, thì nên vui vẻ nhận ngay đi; + Ôn tồn, ngọt ngào-Không nên xẳng; + Gợi những câu hỏi làm sao người ta tự nhiên đáp có hoặc đúng; + Cứ để cho người ta nói cho thỏa thích; + Để họ tin chính họ phát ra ý kiến mà ta đã dẫn khởi cho họ; Thật tình cố gắng xét theo quan điểm người ta; + Tặng cho họ ngay: sự được quý mến, hiểu biết và thương hại ; + Gợi tới tình cảm cao thượng của họ; + Kích thích thị giác và óc tưởng tượng ; + Khêu gợi, kích thích tâm huyết của họ; C/. Chín (9) cách sửa đổi người mà họ không phật ý: + Trước hết khen họ vài lời; + Lấy ý của họ mà làm cho họ nhận thấy lỗi lầm; + Trước khi chỉ trích ai, phải tự nhận trước lỗi của mình (Tiên trách kỷ, hậu trách nhân); + Đừng ra lệnh. Đặt câu hỏi ám thị họ; + Giữ thể diện cho họ; + Công nhận cố gắng của họ, tìm cách khen họ; + Tán dương họ để họ xứng đáng với lời ta khen; + Khuyến khích họ, để họ sửa lỗi lầm; + Xử trí ra sao cho họ thấy sung sướng làm công việc mà bạn đề nghị. Tuy Đắc nhân tâm là một quyển sách nói về quan niệm xử thế mà ông rất tâm đắc, vẫn có chỗ ông thẳng thắn bày tỏ quan điểm không đồng thuận; “ Nên trọng dư luận nhưng không nên nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm nhưng cũng có lúc phải tỏ nỗi bất bình của mình mà không sợ thất nhân tâm”.

“Quẳng gánh lo đi và vui sống” là một cẩm nang giúp cho bạn đọc diệt hết mọi nỗi lo toan cuộc sống để làm việc và hưởng hạnh phúc trong đời. Từ nguyên tác của Dale Carnegie, Nguyễn Hiến Lê chuyển sang tiếng Việt bằng lối văn trong sáng, giản dị và giữ đầy đủ những dẫn chứng cụ thể làm cho nội dung những trang viết được đi vào lòng người đọc mà hành động. Ta có thể tóm lược quyển sách rất hữu ích trên 300 trang, tám phần này vào những điểm chính sau đây. Trong phần đầu tiên, tác giả chỉ ra Những phương sách căn bản để diệt lo, với sự tập trung làm việc hết sức mình vào từng ngày với ý nghĩ: Được một ngày, qua một ngày (Đắc nhất nhật, quá nhất nhật) với phương châm sống và làm việc :“ Một ngày”. Và tác giả đã minh họa thêm chủ đề bằng bài thơ “Chào bình minh” của một thi sĩ Ấn Độ: “Hôm nay, nếu sống đầy đủ, ta sẽ thấy/ Hôm qua là một giấc mộng êm đềm/ Và ngày mai là hình ảnh của hy vọng/ Vậy ta hãy chăm chú kỹ vào ngày Hôm nay” (Kalidasa). Tiếp theo các phần sau, tác giả đưa ra “Một cách thần hiệu để giải quyết những tình thế rắc rối”. Đó là: Can đảm phân tích tình thế và tự hỏi: Nếu thất bại thì kết quả tai hại nhất sẽ ra sao, ta đành lòng nhận nó. Rồi bình tĩnh dùng nghị lực, tìm cách giảm bớt cái hại. Sau đó, tác giả khuyên ta phải “Nghỉ ngơi và giải trí” để giết cái ưu sầu. “Với nhà kinh doanh mà không biết thắng ưu sầu thì sẽ chết sớm”(Alexis Carrel). Vì lẽ, trong đời, con người có thể: đau khổ trong hôn nhân, suy bại về tài chánh, cô độc và ưu phiền đôi khi lâm vào cảnh uất hận. Vậy thì làm sao để giải quyết những vấn đề rắc rối ấy ? Trước tiên, nhớ bốn câu của nhà thơ Anh Rudyard Kipling (1865-1936) để áp dụng : “Tại sao, Ai đó, Ở đâu/ Cách nào, Chi đó, Khi nào: biệt danh/ Sáu người giúp việc trung thành/ Dạy tôi hiểu được mọi ngành gần xa”. Từ đó, phân tích theo ba giai đoạn : + Vạch rõ những sự kiện; + Phân tích sự kiện; + Quyết định rồi hành động. Vắn tắt, nên nhớ bốn câu: 1/. Khó khăn ra sao ? 2/. Nguyên nhân từ đâu ? 3/. Những cách nào giải quyết được ? 4/. Giải pháp nào hay hơn cả ? Trong các chương còn lại, tác giả tiếp tục khuyên người đọc ghi nhớ những điều bổ ích được coi là nguyên tắc diệt lo để sống vui trong đời người: + Không ăn không, ngồi rồi, để “không có thì giờ để lo lắng” (Winston Churchill). Vậy bạn hãy xăn tay lên và làm việc ! Kiếm việc ra làm. Đừng ngồi không (Bernard Shaw); + Làm một việc có ích cho hết lo, cuộc đời ngắn lắm; + Đừng mất công cưa vụn mạt cưa; + Chú ý đến Ngày Hôm nay: Tôi sẽ sung sướng, Tư tưởng và hành động vui vẻ, rồi ta sẽ thấy vui vẻ; + Hiềm thù rất tai hại và bắt ta trả một giá rất đắt; + Định mệnh chỉ cho ta một trái chanh. Hãy làm thành một ly nước chanh ngon ngọt; + Không ai đá đồ chó chết cả; + Hãy gác những lời chỉ trích ra ngoài tai; + Đừng bới móc tánh xấu của người; + Không ai chết vì chứng mất ngủ; + Tiêu tiền một cách khôn ngoan, gia đình cần có ngân sách… Thực ra, khi nói đến Nguyễn Hiến Lê, thông thường người ta nhớ đến trước hai quyển : “Đắc nhân tâm” và “Quẳng gánh lo đi và vui sống” của ông.

Các thể loại phong phú và giá trị khác gồm có sáng tác và dịch thuật của ông như: 1. Văn học-Sáng tác (20 quyển), trong đó ti êu biểu là Đại cương Văn học sử Trung Quốc (3 quyển-1955), Văn học hiện đại Trung Quốc (2 quyển-…), Cổ văn Trung Quốc (1966), Kinh Dịch, Tô Đông Pha (1970), Hương sắc trong vườn văn (2 quyển-1962), và cuốn tiểu thuyết… 2. Triết học (15 quyển) tiêu biểu là: Đại cương Triết học Trung Quốc (viết chung với Giản Chi-1965), Nho giáo, một triết lý chính trị (1958), Nhà giáo họ Khổng (1972). Mạnh Tử (1975), Lão Tử (1994), Một lương tâm nổi loạn (1970), Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại (1971)… 3. Lịch sử (10 quyển) : Lịch sử thế giới (viết chung với Thiên Giang -1955), Đông Kinh nghĩa thục (1956), Nguồn gốc văn minh (dịch Will Durant-1974), Lịch sử văn minh Trung Quốc ((dịch Will Durant-1975), Bài học lịch sử (dịch Will Durant -1972), Sử Trung Quốc (3 quyển-1982)…4. Giáo dục-Giáo khoa (20 quyển) : Thế hệ ngày mai (1953), Thời mới, dạy con theo lối mới (1958),… 5. Học làm người -Tự luyện (trên 20 quyển): Tương lai trong tay ta (1962), Luyện lý trí (1965), Rèn nghị lực (1956), Nghệ thuật nói trước công chúng (1953), Luyện tinh thần (dịch Dorothy Carnegie-1957), Đắc nhân tâm (dịch Dale Carnegie-1951), Quẳng gánh lo đi và vui sống (Dale Carnegie-1955)… 6. Chính trị - Kinh tế (trên 15 quyển) : Xung đột trong đời sống quốc tế (1962), Một niềm tin (1965)… 6. Gương danh nhân (trên 15 quyển) : Gương danh nhân (1959), Gương hi sinh (1962), Gương kiên nhẫn (1964), Gương chiến đấu (1966), Ý chí sắt đá (1971), 40 gương thành công (1968), Những cuộc đời ngoại hạng (1969), Đời nghệ sĩ (1969), Einstein (1971),…7. Khảo luận - Tùy bút - Du ký (20 quyển): Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười (1959), Nghề viết văn (1956), Sống đẹp (1964),Cách xử thế của người nay (dịch Ingram- 1967), Thẳng tiến trên đường đời (dịch Lurton-1967), Thư ngỏ tuổi đôi mươi (dịch André Maurois-1968), Đời viết văn của tôi (1996), Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (1992)…

Với một tài sản văn hóa trên 120 tác phẩm, ông sống trên 70 tuổi, viết trong 30 năm, mỗi năm in 3 cuốn sách, khoảng 900 trang, tính ra trung bình mỗi ngày ông viết 3 trang, Nguyễn Hiến Lê bảo là không nhiều. Nhưng với người đọc, có điều đáng nghĩ tới là hoàn cảnh gia đình, xã hội, điều kiện sáng tác và cách thức làm việc của nhà văn, chắc hẵn là thuận lợi và có những bí quyết đặc biệt giúp người cầm bút thành công. Nguyễn Hiến Lê cho biết, đó là tinh thần làm việc say mê và tính kỷ luật của ông. Gia đình ông coi như đã ổn định với hai người vợ: bà vợ cả Trịnh Thị Tuệ gốc Bắc ông cưới sau khi ra trường vài năm, có một con trai tên Nguyễn Nhật Đức, cả hai mẹ con ở Pháp trước khi ông có bà vợ thứ hai Nguyễn Thị Liệp, người Long Xuyên. Mỗi ngày ông dành thời gian để sắp xếp tài liệu, suy nghĩ trước khi ngồi vào bàn viết. Ông viết vào buổi sáng, buổi chiều còn buổi tối dành để đọc sách báo. Cách làm việc thì không cần phải ngồi chờ cảm hứng đến. Muốn có cảm hứng, phải ngồi vào bàn và cầm bút viết ngay ra giấy. Rồi cảm hứng sẽ đến, ý tưởng sẽ nẩy ra trong óc. Ngày nay là: lấy Laptop ra đặt ngay lên bàn, ngồi mở máy, nhấp chuột làm việc tên bàn phím.

Về quan hệ xã hội, bạn bè, Nguyễn Hiến Lê chơi với các bạn viết như: Giản Chi, Trương Văn Chình, Quách Tấn, Bàng Bá Lân, Vương Hồng Sễn, Đông Hồ, BS. Đỗ Hồng Ngọc…và có lòng giúp đỡ thế hệ cầm bút đàn em. Với chính quyền đương thời, vì không trọng nên ông không cộng tác và không nhận một vinh dự gì được họ ban cho. Tinh thần tự trọng ở kẻ sĩ được tỏ rõ ở thái độ ông từ chối đi chữa trị tại một bệnh viện dành cho cán bộ cao cấp sau năm 1975 vì nghĩ rằng mình là người không có công. Dẫu rằng bao lâu nay, ai cũng biết ông là người thiên cộng. Nguyễn Hiến Lê cũng thể hiện tinh thần dân tộc khi nghe con trai từ hải ngoại báo tin là sẽ lấy vợ Pháp và sau ngày giải phóng, ông không ra sống ở nước ngoài dù có đủ điều kiện. Trong phần “Tự bạch” của tập Hồi ký, Nguyễn Hiến Lê viết vào lúc cuối đời khi về lại Long Xuyên (1980), tác giả trình bày 21 điều, nổi bật ở các điểm quan trọng: + Đời sông vô nghĩa, tự mình phải tạo cho nó một ý nghĩa; + Ta làm điều phải vì tin nó là điều phải, chứ không phải vì ý muốn của Thượng đế hay một vị thần linh nào, cũng không phải mong chết để được lên Niết bàn, hay Thiên đàng. + Quan niệm thiện ác, đạo đức thay đổi tùy nơi, tùy thờ trong một xã hội; + Đạo nào cũng phải hợp tình, hợp lý; + Đạo Khổng thực tế và hợp lý nhất ở việc tu thân, tề gia, trị quốc. Về tu thân, ba đức nhân, trí, dũng luyện được đủ tình cảm, trí tuệ và nghị lực của con người: + Trọng dư luận, nhưng không nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm, nhưng có lúc cũng phả tỏ ra bất bình mà không sợ thất nhân tâm; + Trong xã hội, chọn vai trò thư sinh. Nếu làm văn thì phải độc lập, không nhận một chức tước gì của chính quyền; + Ghi được một vẽ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn, tả được một nỗi khổ của con người khiến cho đời sau cảm động, cũng đủ mang danh nghệ sĩ rồi; + Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng hay. Ở nước ta có Nguyễn Du, ở Trung Hoa có Lý Bạch, Tô Đông Pha; + Xã hội tự do là một xã hội trong đó nghề cầm bút và nghề luật sư là những nghề tự do; + Nghèo thì phải tận lực chiến đấu chống cảnh nghèo. Đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, mà làm việc hữu ích không vì danh, vì lợi; + Chỉ hưởng cái phần xứng đáng với tài đức của mình. Tài đức tầm thường mà phú quý hay được người ngưỡng mộ, se mang họa vào thân; + Hôn nhân là một sự may rủi. Cuộc hôn nhân của ông và bà Curie là đẹp nhất cho cá nhân ông bà lẫn xã hội. Phong trào kết hôn thử ở Mỹ chưa chắc có lợi cho cá nhân và xã hội; + Hoa hữu sắc vô hương có người thích như hoa hải đường, hoa đào. Nhưng phụ nữ nếu chỉ có nhan sắc mà không có nét đẹp tinh thần riêng là hạng tầm thường; + Bản tính con người ít thay đổi được nhưng giáo dục vẫ có ích. Không nên cho trẻ con quá sung sướng. Phải tập cho chúng có quy củ và kỷ luật; + Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Mình cứ làm việc hết sức mình thôi; + Con người hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một việc hữu ích, gia đình êm ấm con cái học được phong lưu một chút chứ đừng giàu quá và sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng.

Quan niệm về cuộc đời và nghề văn, Nguyễn Hiến Lê tinh kết lại trong một câu ngắn hai mệnh đề: “Học để viết và viết để học”. Câu châm ngôn giản đơn mà ý nghĩa sâu sắc vô cùng. Nó minh họa được cuộc đời cao đẹp như một viên ngọc bích trong lành, không trầy xướt chút tỳ vết nào của Nguyễn Hiến Lê mà nhiều người đã thục sự ngưỡng mộ và kính yêu như một nhà giáo, văn hóa lớn từ trước tới nay. Vững vàng trên tập trường dân tộc của một kẻ sĩ, với nhân dân, hình ảnh Nguyễn Hiến Lê cầm bút âm thầm, mài miệt viết suốt đời, trên lĩnh vực văn chương đẹp rạng rỡ, hào hùng không khác nào một chiến sĩ dũng cảm, cầm súng trường kỳ chiến đấu với kẻ thù dân tộc trên mặt trận bảo vệ đất nước quê hương.

(Văn Nghệ)

Post a Comment

Loading...

MEDIA

[Video][video][#e74c3c]

Sự Kiện Nóng

[Trịnh Xuân Thanh][fbig1][#e74c3c]

KHÔNG BỎ LỠ

Powered by Blogger.